》Bài viết 03: TÍN NGƯỠNG THUẬN TỰ NHIÊN

I/. Tổng quan về Tôn giáo và Tín Ngưỡng:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo năm 2016 thì:

+ Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm cũng như hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.

+ Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.

1/. Các Tôn Giáo lớn trên thế giới:

Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 10.000 tôn giáo khác nhau nhưng tầm 84% dân số thế giới theo một trong năm nhóm tôn giáo lớn nhất là Kitô giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo và Các dạng tôn giáo dân gian. Riêng Đạo Phật có vai trò bao trùm toàn thế giới vì giác ngộ TÌNH YÊU THƯƠNG VÀ SỰ TỈNH THỨC VỚI TẤT CẢ CHÚNG SINH Ở CÁC CÕI KHÁC CHỨ KHÔNG CHỈ CÕI NGƯỜI (ví dụ: cõi súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục...).

2/. Điểm giống và khác nhau giữa Tôn giáo và Tín ngưỡng:

2.1/. Giống nhau:

+ Đều tin vào những điều mà Tôn giáo và Tín ngưỡng đó truyền dạy, mặc dù họ không hề nhìn thấy Bề Trên, Thần Linh hay Tổ Tiên hiện hình ra bằng xương bằng thịt hoặc cũng không được nghe chính giọng nói của các đấng linh thiêng đó.

+ Đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá thể với nhau, giữa cá thể với xã hội và với cộng đồng, giải quyết tốt các mối quan hệ trong gia đình trên cơ sở giáo lý Tôn giáo và noi theo tấm gương sáng của những đấng bậc được tôn thờ trong các Tôn giáo cũng như các loại hình Tín ngưỡng đó.

2.2/. Khác nhau:

+ Tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố cấu thành là: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ. Còn các loại hình Tín ngưỡng dân gian không có đầy đủ 4 yếu tố đó. Cụ thể:

> Giáo chủ là người sáng lập ra tôn giáo ấy (như Đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra Đạo Phật, Đức Chúa Giê Su sáng lập ra Đạo Công Giáo, Nhà Tiên Tri Mô Ha Mét sáng lập ra Đạo Hồi…)

> Giáo lý là những lời dạy của Đức giáo chủ đối với tín đồ.

> Giáo luật là những điều luật do giáo hội soạn thảo và ban hành để duy trì nếp sống đạo trong tôn giáo đó.

> Tín đồ là những người tự nguyện theo tôn giáo đó.

+ Đối với tín đồ Tôn giáo trong một thời điểm cụ thể thì một người chỉ có thể có một Tôn giáo, nhưng với một người dân lại có thể đồng thời sinh hoạt ở nhiều Tín ngưỡng khác nhau (chẳng hạn vừa lễ Mẫu lại có thể lễ Thành Hoàng và lễ Tổ Tiên).

+ Các Tôn giáo đều có hệ thống kinh điển đầy đủ, đồ sộ (ví dụ Kinh - luật - luận của Phật giáo, Kinh thánh và Giáo luật của Công Giáo...). Còn các loại hình Tín ngưỡng chỉ có một số bài hát chầu văn và bài khấn đối với thờ Mẫu hoặc bài khấn hay gia phả đối với thờ Tổ Tiên...

+ Các Tôn giáo đều có các giáo sĩ hành đạo chuyên nghiệp và theo nghề suốt đời nhưng các sinh hoạt Tín ngưỡng dân gian thì không hẳn như vậy (ví dụ Tăng sĩ Phật giáo hay Giáo sĩ Công giáo đều là những người làm việc chuyên nghiệp và hành đạo suốt đời, còn những người làm việc ở Đền - Phủ -  Điện hay Đình Làng khi rảnh họ lại trở về nhà làm những công việc khác).

3/. Điểm giống nhau và khác nhau giữa Tín ngưỡng với Mê tín dị đoan

3.1/. Giống nhau:

+ Đều tin vào những điều mà mắt mình không nhìn rõ, tai mình không nghe thấy thân hình và giọng nói của đấng thiêng liêng cũng như của đối tượng thờ tự.

+ Những tín điều của Tín ngưỡng dân gian và Mê tín dị đoan đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với xã hội cũng như với cộng đồng, điều chỉnh hành vi ứng xử trong gia đình trên cơ sở những tín điều mà người ta tin theo để noi theo tấm gương sáng của những đấng bậc - đối tượng tôn thờ trong các loại hình Tín ngưỡng và trong Mê tín dị đoan.

3.2/. Khác nhau:

+ Lĩnh vực sinh hoạt Tín ngưỡng có mục đích là thể hiện nhu cầu của đời sống tinh thần hay tâm linh  nhưng người hoạt động Mê tín dị đoan lấy mục đích kiếm tiền là chính (thường chỉ làm việc với khách hàng khi họ có tiền).

+ Lĩnh vực sinh hoạt Tín ngưỡng không có ai làm việc chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp nhưng những người hoạt động Mê tín dị đoan hầu hết là hoạt động bán chuyên nghiệp hoặc chuyên nghiệp, nhiều người sống và gây dựng cơ nghiệp bằng nghề này.

+ Sinh hoạt Tín ngưỡng có cơ sở thờ tự riêng (Đền, Phủ, Đình, Miếu, Từ Đường…) nhưng những người hoạt động Mê tín dị đoan thường phải lợi dụng một không gian nào đó của những cơ sở Thờ tự trong Tín ngưỡng dân gian để hành nghề hoặc hành nghề tại tư gia.

+ Những người có sinh hoạt Tín ngưỡng thường sinh hoạt định kỳ tại nơi Thờ tự (như mùng 1 ngày Rằm, các dịp giỗ Tết… hàng năm) thì những người hoạt động Mê tín dị đoan thường không định kỳ (chẳng hạn người đi xem bói chỉ gặp thầy bói khi trong nhà có việc bất thường xảy ra). Nếu ai cũng hiểu được làm sao để luôn biết tích Phúc mới là cái Gốc thì có lẽ không cần thiết tới việc xem bói làm gì nữa.

+ Sinh hoạt Tín ngưỡng được pháp luật bảo vệ cũng như xã hội thừa nhận thì hoạt động Mê tín dị đoan bị xã hội lên án và không đồng tình.

II/. Các Tôn giáo và Tín ngưỡng ở Việt Nam:

Nước ta có Tôn Giáo rất đa dạng gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Đạo hồi, Đạo Cao đài, Đạo Hòa hảo (trong đó Phật giáo và Công giáo chiếm tỉ lệ nhiều nhất).

Còn Tín Ngưỡng Dân Gian cũng vô cùng phong phú gồm: Tín ngưỡng thờ Mẫu, Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, Tín ngưỡng thờ Tổ Tiên.

1/. Sơ lược sự hình thành và phát triển các Tôn Giáo ở Việt Nam

+ Phật giáo: Gồm 2 phái là Đại thừa và Tiểu thừa. 

Phái Đại thừa du nhập vào Việt Nam thế kỷ thứ II trước Công nguyên còn Tiểu thừa là thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Từ thế kỷ thứ X, Phật giáo phát triển nhanh chóng, được coi là Quốc Đạo và đạt đỉnh cao ở thời Lý - Trần. Phật giáo hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 10 triệu tín đồ, với hơn 20.000 chùa thờ Phật, hơn 38.000 tăng ni cùng rất nhiều trung tâm đào tạo các chức sắc tôn giáo.

+ Công giáo: được các giáo sỹ Phương Tây truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XVI. Thiên Chúa giáo đầu tiên được phổ biến trong các cư dân ven biển Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… sau đó đi vào các vùng châu thổ sông Hồng và các thành phố và hiện nay có khoảng hơn 6 triệu tín đồ, hơn 6.000 nhà thờ, hơn 15.000 chức sắc.

+ Tin Lành: được du nhập vào Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 nhưng tới năm 1920 thì mới bắt đầu được truyền giáo tại khắp các vùng của Việt Nam và hiện có khoảng hơn 1 triệu tín đồ, hơn 500 nhà thờ Tin Lành.

+ Đạo Hồi: truyền tới Việt Nam qua cộng đồng người Chăm vào thế kỷ X-XI và hiện nay có khoảng hơn 100 nhà thờ Hồi giáo, hơn 70.000 tín đồ, hơn 700 vị chức sắc tại các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó có 2 khối người Chăm theo Hồi giáo: Hồi giáo chính thống bao gồm những người Chăm theo Hồi giáo ở Châu Đốc, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai và Hồi giáo không chính thống (hay còn gọi là Chăm Bà Ni) gồm những người Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận.

+ Đạo Cao Đài: chính là một tôn giáo bản địa được sáng lập năm 1926 tại Tây Ninh và tôn thờ 3 đấng tối cao gồm: Đức Phật, Chúa Giê-Xu, Đức Cao Đài. Trung tâm là tỉnh Tây Ninh, hiện nay có khoảng hơn 2,3 triệu tín đồ, hơn 7.100 chức sắc, hơn 6.000 đền thờ.

+ Đạo Hòa Hảo: là một tôn giáo bản địa, hay còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo và được sáng lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang. Số tín đồ vào khoảng hơn 1,2 triệu người đa phần ở miền Tây Nam Bộ.

2/. Sơ lược sự hình thành và phát triển Tín Ngưỡng dân gian ở Việt Nam

+ Tín ngưỡng thờ Mẫu (Đạo Mẫu - Đạo Bản Địa): Là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử rất lâu đời. Tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các Thần linh thiên nhiên kết hợp với Tín ngưỡng thờ Nữ Thần rất phát triển trong xã hội Mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, Tín ngưỡng thờ Mẹ Thiên Nhiên ban đầu đã hòa cùng các Tôn giáo khác để trở thành một Tín ngưỡng bản địa riêng của Việt Nam.

Việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người của Đạo Mẫu đã dễ dàng đi vào đời sống dân gian, bắt rễ sâu vào xã hội và đời sống tâm linh của mỗi người. Tín ngưỡng thờ Mẫu được xây dựng và bảo tồn trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta bởi các câu chuyện lịch sử cũng như truyền thuyết về các vị anh hùng dân tộc. Tinh thần yêu nước, thương dân ấy được sử sách ghi lại bởi những thần tích, để rồi nhân dân dựa vào đó mà sáng tạo nên các lễ hội, và hình thức diễn xướng “hầu đồng”. Niềm tin bất diệt vào sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, niềm tôn kính vô bờ với các vị anh hùng dân tộc (khi sinh là tướng, khi khác hiển thần) đã khiến tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại lâu dài trong đời sống tinh thần của người dân đất Việt. Thông qua hình thức “hầu đồng” tín ngưỡng thờ Mẫu hướng con người đến với những ước vọng về một cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn đồng thời mang lại cho họ sức mạnh niềm tin với cái thiện. Tuy nhiên do trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, tín ngưỡng thờ Mẫu mà tiêu biểu cho nó là nghi lễ hầu đồng đã dần bị thay đổi, thậm chí đến biến dạng cả về bản chất, không còn giữ được quy chuẩn của thuở ban đầu, một bộ phận không nhỏ trong xã hội hiện đại đã cố tình hoặc vô ý khoác lên nó một lớp áo huyền bí đầy nghi hoặc cùng với những định kiến mang tính thiếu khách quan để từ đó làm mất dần lòng tin của nhiều người. Chính vì vậy đang có một công cuộc đại thanh lọc âm dương về Tín ngưỡng thờ Mẫu nhằm kế thừa những giá trị tốt đẹp trước đây đồng thời cũng có nhiều thay đổi cho phù hợp thời đại và dung hòa lẫn nhau trên cở sở Gốc rễ là thuận tự nhiên thì mới phát triển bền vững được.

+ Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng: Là một tín ngưỡng cũng khá phổ biến ở làng xã của người Việt từ hàng ngàn năm nay, không làng nào là không có Đình, Đền, Miếu thờ Thần. Trong đó Đình vừa là nơi thờ Thành Hoàng làng, vừa là không gian văn hóa - tôn giáo - tín ngưỡng, đồng thời cũng chính là đơn vị cơ quan hành chính làng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.

Giá trị tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ được thể hiện: Thứ nhất là ý thức về lòng biết ơn những người có công với làng xã; thứ hai là ý thức giữ gìn luật lệ - lề lối gia phong của làng xã; thứ ba là ý thức đoàn kết cộng đồng làng xã.

Tóm lại Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng đóng vai trò liên kết cộng đồng làng xã, là nơi quy tụ tâm linh cho cư dân. Thành Hoàng chứng kiến đời sống của dân làng, ban phúc độ trì cho những người trung hiếu, có việc oan ức thì người ta thường lễ bái cầu xin Thần chứng giám chuyển giữ hóa lành, giải oan cho người đó. Mọi người trong cộng đồng luôn tuân thủ theo luật lệ, đạo đức vì họ luôn tâm niệm rằng thần luôn giám sát những hoạt động của từng thành viên trong cộng đồng. Nhà nước phong kiến Việt Nam chọn lọc và phong sắc cho Thành Hoàng làng nhằm mục đích đoàn kết và động viên toàn bộ sức mạnh của cộng đồng làng xã và dân tộc thành một khối, đồng thời thực hiện việc quản lý xã hội đến cơ sở xã hội. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng chính là nét đặc trưng của văn hóa dân tộc và từ đây mỗi người cảm thấy rõ nhu cầu ngưỡng vọng tâm linh, nhu cầu không thể sống một mình mà cần có thêm những người khác nữa. Phải sống giữa cộng đồng, gắn kết với cộng đồng làng, hay theo như lời người xưa, đó chính là cái lẽ “Nhân quần”. Nếu như việc Thờ Tự Tổ Tiên là nền tảng gắn kết mọi thành viên trong gia đình và dòng họ thì việc Thờ Tự Thần Thành Hoàng là nền tảng gắn kết mọi thành viên trong cộng đồng làng xã.

Người dân Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, suốt chiều dài lịch sử ấy, tất cả phải đoàn kết nhau lại, ý thức kết nối cộng đồng được hình thành và phát triển để chống lại thiên tai - giặc giã. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ biểu hiện Đạo Hiếu, sự biết ơn và mong muốn được đền đáp công ơn của thế hệ sau với thế hệ trước, sự đền đáp đó được lưu truyền từ đời này sang đời khác, củng cố và duy trì bền vững.

Đạo Hiếu có vai trò trung gian, điều chỉnh sự tồn tại, hoạt động trong sinh hoạt tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng và nó được kết tinh từ văn hóa để trở thành triết lý sống của người Việt, dạy con người sống hướng thiện, có cái Tâm trong sáng, biết đối nhân xử thế, thờ phụng ông bà tổ tiên và những người có công với quốc gia dân tộc. Đạo Hiếu trong tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng đang tồn tại và phát triển cùng với lịch sử dân tộc, thấm dần vào các thế hệ người Việt Nam. Trải qua thời gian, triết lý về lòng biết ơn và đền ơn của Đạo Hiếu không thay đổi, sẽ mãi là giá trị vĩnh hằng, khẳng định sự trường tồn của dân tộc, tạo ra sức mạnh văn hóa trong hội nhập và phát triển.

+ Tín ngưỡng thờ Tổ Tiên (Đạo Ông Bà): Là tục lệ Thờ Tự Tổ Tiên và người có ích với cộng đồng đã qua đời của nhiều dân tộc châu Á (đặc biệt phát triển trong văn hóa Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Đông Nam Á trong đó có Việt Nam). Đối với người Việt thì phong tục này đã trở thành một Tín Ngưỡng Thờ Tự Tổ Tiên, nhiều người Việt Nam vẫn thường thờ Tổ Tiên ngoài Tôn Giáo nào đó mà mình đang theo. Đa số các gia đình đều lập Bàn Thờ Gia Tiên trong nhà cho dù là to hay nhỏ do lòng thành kính của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ... đã mất, đây là một tín ngưỡng vô cùng quan trọng và gần như không thể thiếu trong phong tục của Việt Nam. Tuy nhiên điều đáng bàn là việc Thờ Tự Tổ Tiên hiện nay lại không có sự đồng nhất mà mỗi nơi một kiểu, điều này xuất phát bởi rất nhiều lý do: từ người hướng dẫn chưa chuẩn, từ sở thích của mỗi gia đình, từ phong tục địa phương để lại nhưng có thể lại là hủ tục... tất cả hầu như đều do yếu tố Nhân (con người) tự suy diễn phần Trần ra mà chưa hiểu sâu việc đó cần tuân theo Âm Luật chung là thuận tự nhiên... Đa số đều cho rằng để tưởng nhớ Tổ Tiên thì chỉ cần có Tâm là đủ nên đã vô tư áp dụng nhiều phương pháp khác nhau mà chưa hiểu thấu Âm luật cũng chỉ có một như Pháp Luật phần trần mà thôi, nhưng Âm luật lại phải thuận tự nhiên chứ không hẳn chỉ theo sách vở để lại đã có những bất cập về mặt thời gian cũng như không gian. Vấn đề này người tham khảo có thể xem chi tiết ở Bài số 5: THỜ TỰ THUẬN TỰ NHIÊN.

3/. Thực trạng mối liên hệ giữa Tôn Giáo và Tín Ngưỡng dân gian ở Việt Nam:

Theo phần Dương thì cơ cấu xã hội truyền thống của người Việt trong lịch sử là Nhà - Họ - Làng - Nước nhưng cũng tương ứng phần Âm là Gia Tiên (Bàn Thờ tại gia) - Tổ Tiên (Từ Đường dòng họ) - Thành Hoàng (Đình Làng) - Phật Thánh (Chùa Đền Phủ hay Nhà Thờ Đạo khác). 

Quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của công dân Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế. Hiến pháp năm 1992 của nước CHXHCN Việt Nam, điều 70 ghi rõ: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước".

Vì vậy hiện nay trong xã hội mỗi gia đình đều có những lựa chọn khác nhau mà không phải ai cũng hiểu hết là nên dựa theo nguyên lý chung của việc Thuận Tự Nhiên làm Gốc. Đó là cho dù theo Tôn Giáo hay Đạo nào thì mỗi người đều phải biết chăm lo tới cấp gần nhất là Tổ Tiên thông qua Thờ Tự và Mộ Phần sao cho đúng cách mới Dưỡng - Giữ - Bồi Phúc được chứ không phải chỉ cần có Tâm là đủ. Chẳng hạn nhiều gia đình cứ nghĩ mình thành kính với Phật - Chúa là tự ý lập lô nhang hay tượng thờ các Ngài mà không biết mình có đủ căn duyên hay chưa, khi làm trái quy luật tự nhiên thì không những công đức khó bồi mà còn tạo thêm Nghiệp làm sai rồi lại bị hao tổn đi. Hoặc cũng không ít gia đình lại bỏ qua việc Tổ Tiên mà không quan tâm hoặc có chăng cũng chỉ ở mức theo phong trào cho yên tâm chứ chưa phải thực sự nhất tâm đúng cách.

III/. Tín Ngưỡng thuận tự nhiên:

1/. Tóm lược điểm giống và khác nhau của 3 Đạo lớn nhất của Việt Nam:

1.1/. Điểm giống nhau: Đều cho rằng con người có Linh Hồn và Thể Xác, nêu cao TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA CON NGƯỜI, có Giáo Chủ riêng, cùng tuân theo luật Nhân Quả chung của Vũ Trụ (tức là sống tốt thì có thể lên cảnh giới cao khi mất, sống gây nhiều tội lỗi thì dễ đọa ở cảnh giới thấp).

1.2/. Điểm riêng:

> Đạo Phật: Mục đích là phát triển rõ hơn cách vận hành Luật Nhân Quả để hướng Chúng Sinh thoát khỏi các kiếp luân hồi nhưng tỉ lệ rất ít.

> Công Giáo: Thiên về cầu nguyện và bác ái thông qua việc đọc kinh chung và làm những việc lành giúp họ an vui trong cuộc sống hiện tại và tiến về cuộc sống vĩnh cửu.

> Đạo Mẫu Việt Nam: 

Có nguồn gốc sâu xa từ chế độ mẫu hệ trong đó người Mẹ/Vợ giữ vai trò quan trọng. Mục đích để rèn cho con người trở nên mạnh mẽ, có lòng yêu Quê Hương - Tổ Quốc - Tôn Kính các Tiền Nhân đã có công lập nước - giữ nước và được chia làm 3 cấp độ là:

- Trung: hiếu kính Trời Đất, Bề Trên (thể hiện qua việc hầu đồng tưởng nhớ các bậc Tiền Nhân, chỉ tiếc là thời mạt pháp đã bị biến tướng nên cần có khoảng thời gian thanh lọc lại)

- Hiếu: hiếu kính Tổ Tiên (thể hiện qua việc chăm lo Thờ Tự và Mộ Phần)

- Nhân: hướng con người tu Tâm sống tốt về các mối quan hệ với Cha Mẹ, Vợ Chồng, Anh Em, Bạn Bè, Hàng Xóm.

2/. Vậy khi sống ở Việt Nam cần phải làm sao cho đúng ? 

Dù chúng ta theo Đạo/Tôn Giáo nào thì cũng vẫn nên lấy chữ HIẾU (với Tổ Tiên) làm Gốc, cao hơn là chữ TRUNG (với Bề Trên) và sau cùng lấy chữ NHÂN (với Gia Trung Gia Đạo - Hàng Xóm) để hành Thiện. Chúng ta HÒA NHẬP chứ ko HÒA TAN, hòa nhập để tiếp thu những cái tốt hơn bổ sung cho Đạo Bản Địa và hướng tới sự giải thoát theo Đạo Phật nhưng phải có lộ trình vì đa phần đều chưa buông được nên tạm thời vẫn cần chăm lo tới Tổ Tiên (Thờ Tự và Mộ Phần) để các Cụ nương theo phương tiện hỗ trợ tu tập như đồ lễ mã qua cảm thức bằng hình tướng/màu sắc/mùi vị. Chỉ có điều cần phải đúng mực để tránh lãng phí như hiện nay, còn nếu con cháu bỏ hẳn mà ko quan tâm đúng cách chuẩn theo Luật Âm (thường áp dụng chung cho Tâm Linh Việt cả nước chứ ko hẳn riêng theo địa phương nào) thì thiệt thòi cho Tổ Tiên rất nhiều và khi đó chúng ta vẫn chịu Nghiệp (vd: thay vì chỉ lễ chay suốt thì chúng ta chỉ xin vào thời điểm tháng 7 âm thôi chẳng hạn, còn bình thường vẫn phải có cả lễ mặn mới ko thiếu sót...). Mong rằng đến khi xã hội phát triển ở tầm cao nhất là không ai còn chấp ngã vào Thân Xác/Mộ Phần/những vật dụng đời thường khi mất thì Trái Đất này mới bền vững hơn.


3/. Hướng tới một nền Tín Ngưỡng thuận tự nhiên:

Kể từ thời điểm được khai sáng những tri thức mới về Thuận Tự Nhiên, người chắp bút đã Ngộ ra được đúng con đường đi cho vận mệnh của mình và cái giá phải trả trước đó có lẽ không thể tính hết được cả về vật chất lẫn tinh thần, vì vậy những kinh nghiệm được tích lũy qua thực hành nhiều năm này rất mong muốn lan toả tới Bách Gia hữu duyên để chúng ta cùng nhau hướng tới một Trái Đất bền vững hơn.

Đại đa số đều cho rằng chỉ cần có Tâm là đủ trong việc trong việc thực hành Tín Ngưỡng nhưng thực tế phải cần có Phương Pháp đúng nữa mới đảm bảo các việc thuận tự nhiên theo chuẩn âm luật. Điều đã thay khác trước là Phương Pháp giờ đây chúng ta không phải nhờ Thầy Pháp làm hộ như trước nữa mà chỉ cần nương theo chữ Pháp và khởi Tâm để Tự làm mới Dưỡng Phúc - Giữ Phúc - Bồi Phúc được. Cũng giống như phần Trần, pháp luật Việt Nam chỉ có một thì phần Âm cũng chỉ có một luật Âm mà thôi, cho dù mỗi vùng miền có thêm những nét riêng thì cũng vẫn phải tuân thủ theo cái chung chứ không thể tách rời. Và cái chung đó tất cả những người được cho là thực hành Phong Thủy Tâm Linh phải được khai sáng để vận dụng chứ đâu hẳn mỗi thày làm một kiểu hay chỉ học theo sách vở đã tam sao thất bản hoặc biến tướng mất rồi.

Tuy nhiên muốn nhận được những khai sáng từ tinh hoa của luật Âm thì mỗi người cần phải vượt qua những cám dỗ đời thường là Tham - Sân - Si - Chấp - Ngã để Tâm thật trong sáng mới cảm nhận được, còn khi Tâm vẫn bị vẩn đục và Đức Tin không đủ thì lại dễ bị dẫn dụ làm việc chưa đúng phần Âm nhưng bản thân lại không nhận ra điều này mà vẫn nghĩ là đang làm phúc cho bách gia, khi ấy Nghiệp ngày một dầy hơn thực là đáng tiếc. Cụ thể hơn, đối với người Việt Nam chúng ta cho dù sống ở bất kể vùng miền nào (từ Bắc vào Nam hay từ đồng bằng tới núi cao) cũng như bất kể theo Tôn Giáo hay Đạo nào thì vẫn không thể bỏ qua cái Gốc chung đã chuẩn theo luật Âm và cũng ứng phần Dương biết bao đời nay là ĐẠO HIẾU thông qua việc THỜ TỰ - MỘ PHẦN từ cấp độ Gia Tiên tới Bề Trên, đó chính là Tín Ngưỡng Thuận Tự Nhiên. Chỉ có điều do trải qua rất nhiều nguyên nhân như: chiến tranh, du nhập lai căng, các thầy pháp làm biến tướng, Tâm người thay đổi, Vong Tà dẫn dụ... nên việc Thờ Tự - Mộ Phần đã bị làm sai đi rất nhiều mà ngay cả nhiều người làm thầy có thể cũng ko nhận ra chứ chưa kể tới Bách Gia trăm họ, khi đó linh khí mỗi mảnh đất ko thể hội tụ nên dẫn tới cả vùng đất lớn ấy bị ám, bị tàn phá Long Mạch để rồi con người phải gánh chịu nhân quả từ Thiên Nhiên với thiên tai - dịch bệnh vô cùng đáng tiếc. 


Bản thân người chắp bút trước đây nhiều năm ngoài việc thiết kế cũng đã có đam mê nghiên cứu - học hỏi thêm rất nhiều thầy về các bộ môn Huyền Học (phong thủy, tử vi, kinh dịch, cảm xạ...) nhưng khi kết hợp vận dụng vào thực tế mới thấy đây chỉ là phần Ngọn (Dương Trần) mang tính Hỗ Trợ chứ chưa phải là phần Gốc (Âm Phúc) mang tính Quyết Định. Những lý thuyết ấy nhiều người cố áp cho cái tên là Khoa Học vì dựa trên những tính toán con số và phải mắt thấy tai nghe mới tin để dễ thuyết phục nhưng bấy nhiêu cũng chỉ là bề nổi của tảng băng chìm mà con người vẫn chưa nhìn thấy bởi nó Ẩn chứ không hiện hữu.  

Điều này lý giải vì sao mấy ngàn năm trước Đức Phật đã nhìn ra sự vận hành của Vũ Trụ rồi mà cho tới tận ngay nay khi khoa học Thiên Văn đã phát triển tới cực độ nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa lời giải đáp, việc này cũng được minh chứng qua chính lời của nhà khoa học Albert Einstein rằng: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học”... Đạo Phật có vai trò bao trùm toàn thế giới so với tất cả các Đạo hay Tôn Giáo khác ở chỗ Giác ngộ TÌNH YÊU THƯƠNG VÀ SỰ TỈNH THỨC VỚI TẤT CẢ CHÚNG SINH Ở CÁC CÕI KHÁC CHỨ KHÔNG CHỈ CÕI NGƯỜI (ví dụ: cõi súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục...). Mục đích là phát triển rõ hơn cách vận hành Luật Nhân Quả để hướng Chúng Sinh thoát khỏi các kiếp luân hồi nhưng tỉ lệ đạt được vẫn còn rất ít. Chính vì điều này mà xét bối cảnh Tâm Linh nước Việt, ngay cả phần Âm Tổ Tiên chúng ta cũng chưa mấy Chân Linh đạt được cảnh giới cao đó nên không thể nhảy cóc, con cháu phần Trần không thể áp đặt ngay việc không cần Thờ Tự Tổ Tiên hay không cần dâng lễ mặn để bảo các Cụ nhà ta theo Phật rồi thì bỏ qua. Chúng ta nên hiểu rõ việc này là chỉ hướng tới cảnh giới cao đó chứ chưa thể tới ngay được, và khi ấy chúng ta mắc lỗi là không trọn vẹn cũng như làm sai luật Âm dẫn tới Âm Phúc không bồi được mặc dù rất có Tâm. Chẳng hạn khi Tổ Tiên của chúng ta ở cảnh giới thấp vẫn cần nương theo các đồ lễ mã dâng làm phương tiện tu tập mà con cháu bảo tôi theo Đạo Phật rồi nên không cần thì góc nhìn phần Trần nge có vẻ hợp lý nhưng góc nhìn phần Âm lại chưa đủ bao quát, mà các Cụ lại đang ở phần Âm cơ mà. Tất nhiên việc dâng đồ cũng phải sao cho vừa đủ chứ ko nên quá lãng phí như hiện nay lại phản tác dụng.

Ngay từ khi còn ở Dương Trần, Đức Thánh Trần Hưng Đạo đã "lấy Dân làm Gốc" để trị Quốc và đến thời mạt pháp cả phần Âm này có lẽ việc đó vẫn là tôn chỉ của Ngài, chỉ có điều bây giờ lấy Gốc phần Âm là Gia Tiên của các nhà nên việc Thờ Tự được nâng lên một bậc cao hơn. Khi mỗi gia đình làm được phần Thờ Tự đúng, xin lưu ý lại là phải đúng phần Âm (thuận tự nhiên) thì linh khí mới có thể hội tụ tối đa và Gia Tiên mới khai sáng cho con cháu đi đúng đường đúng Đạo được để cùng đoàn kết vượt qua thời mạt pháp này, Nguyên Khí Quốc Gia tăng lên mà cùng chung tay hướng tới một thế giới hòa bình. Muốn xây dựng được Phúc Âm của mỗi gia đình hay dòng tộc thì ko thể nhanh được và vì nó ẩn nên chúng ta không nhìn thấy, điều này chỉ dành cho những người có Đức Tin cảm nhận, còn khi ta thấy luôn sự phát triển rất nhanh của ai đó thì chưa hẳn đã bền vững về lâu dài nếu người ấy không có ý thức về phần Âm bởi Nhân Quả luôn đến chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

Tóm lại, nếu ai đủ nhân duyên giác Ngộ về Tín Ngưỡng Thuận Tự Nhiên mà thực hành trong cuộc sống sao cho đúng phương Pháp thì luôn tích được Công Đức để Dưỡng Phúc - Giữ Phúc - Bồi Phúc bền lâu, còn ngược lại khi có Tâm mà làm chưa đúng cách thì thậm chí ta có thể không bòn mót được chút Công Đức nào nhưng thậm chí còn tạo thêm Nghiệp hàng ngày mà không hay thì thật là đáng tiếc.

* Ghi chú: Các số liệu thống kê ở trên chỉ mang tính tương đối và thời điểm bạn tham khảo bài này có thể đã thay đổi rất nhiều.

!!! Lưu ý: Những Tri Thức thuộc phần Thuận Tự Nhiên trên do Thiên Địa khai sáng, người chắp bút chỉ đóng vai trò cầu nối với các yếu tố Nhân để sao cho Thiên - Địa - Nhân hợp nhất chứ không phải tự nghĩ ra nên chỉ khi nào Quý Gia Chủ có đủ Đức Tin lúc còn ở cõi Dương thế hoặc chậm nhất là lúc về với Tiên Tổ ở cõi Âm sẽ tự cảm nhận được rõ nhất điều này. Vì vậy nếu Quý Gia Chủ thấy những điều chia sẻ này chưa phù hợp xin vui lòng bỏ qua hoặc chỉ tham khảo để suy ngẫm thêm thay vì vội vàng phản bác để tránh tạo Khẩu Nghiệp ạ!

Kính chúc các Quý Gia Chủ luôn được an yên mỗi ngày trong cuộc sống !

Chắp bút: Kiến trúc sư Kiến Phong 

Nhắn tin trước qua Zalo: 0896466899