》Bài viết 04: THỜ TỰ THUẬN TỰ NHIÊN
I/. Vai trò và ý nghĩa của việc Thờ Tự Tổ Tiên:
Có lẽ từ bao đời nay Tín Ngưỡng Thờ Tự Tổ Tiên đã trở thành tục lệ không thể thiếu đối với người dân Việt Nam. Mỗi Gia Đình đều có một Bàn Thờ Gia Tiên to hay nhỏ tùy theo gia cảnh nhưng thường có điểm chung là nhất Tâm hướng về cội nguồn thông qua việc dâng lễ, hiểu rộng hơn là việc thờ tự Tổ Tiên ở Từ Đường mỗi dòng họ. Đây cũng chính là một nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần cũng như Đạo Hiếu của dân tộc. Cụ thể Gia Tiên là những bậc tiền nhân đã khuất trong gia đình bao gồm 4 đời trên đời mình gọi theo Hán tự là: Cao Tổ (Kỵ - Ngũ Đại), Tằng Tổ (Cụ - Tứ Đại), Tổ (Ông Bà - Tam Đại), Khảo (Cha Mẹ - Nhị Đại), đời mình coi là Nhất Đại và đó cũng là cách gọi theo phần âm mà kiêng gọi tên húy các Cụ phần trần khi đã mất. Nếu tính từ đời mình trở về sau là: Tử (Con), Tôn (Cháu), Tằng Tôn (Chắt), Huyền Tôn (Chút). Còn Tổ Tiên là những bậc tiền nhân trong Gia Tộc đã khuất từ trên 5 đời trở lên trước nhưng được Hợp Tự vào Nhà Thờ Họ (Từ Đường hoặc Nhà Thờ cấp Chi - Nhánh) để thờ chung và thường gọi là Cửu Huyền Thất Tổ (rất nhiều đời). Phạm vi bài viết này sẽ gọi chung là Thờ Tự Tổ Tiên vì theo phần Âm mỗi con cháu đều phải có trách nhiệm tới tất cả các Cụ trong dòng Tộc chứ không chỉ là gần đời mình nhất bởi đó mới là thuận lẽ tự nhiên, còn việc phân chia các cấp thờ trên dưới 5 đời chỉ là theo góc độ phần trần (bài này cũng không dùng từ Thờ Cúng như đa phần vì nghĩa hẹp hơn từ Thờ Tự).
1/. Xét theo góc độ phần Dương (Ngọn) thì việc Thờ Tự Tổ Tiên thể hiện:
+ Sự hiếu thảo - lòng biết ơn của con cháu đối với Tổ Tiên và là Đạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống tốt đẹp cần được gìn giữ cũng như phát huy nhiều đời.
+ Sự gắn kết trong gia đình - dòng tộc thông qua việc hội tụ các con cháu để cùng tạ lễ vào các dịp Giỗ Tết, từ đó có cơ hội tưởng nhớ Tổ Tiên và chia sẻ với nhau về những giá trị truyền thống của gia trung gia đạo.
+ Sự giáo dục Đạo Đức cho con cháu được học cách hiếu thảo - lòng biết ơn, kính trọng người lớn tuổi và luôn biết hướng Tâm tới cội nguồn gốc rễ là Tổ Tiên, cao hơn còn là Bề Trên.
2/. Xét theo góc độ phần Âm (Gốc) thì Thờ Tự Tổ Tiên mang lại những giá trị to lớn mà nhiều người có thể chưa cảm nhận hết vì nó vô hình nhưng với điều kiện phải thực hành đúng Phương Pháp mới đạt hiệu quả bền lâu:
+ Dưỡng được Nguyên Khí phần Âm Đất tại nơi đó, thậm chí cả một vùng đất rộng lớn hơn, và khi mỗi nơi đều làm được điều đó thì Nguyên Khí Quốc Gia mới được gìn giữ, còn ngược lại có thể làm phạm Long Mạch dẫn tới hao tổn Phúc Âm.
+ Bồi Phúc Âm cho dòng tộc đó ngày càng vượng hơn nếu toàn thể con cháu đều biết quan tâm tới Tổ Tiên đúng cách (từ Bàn Thờ Gia Tiên mỗi nhà tới Từ Đường chung của dòng họ)
+ Tổ Tiên được nương theo các phương tiện do con cháu phát Tâm dâng tiến trợ duyên phần Trần nên việc tu tập ở phần Âm được nhanh hơn (đặc biệt là các Chân Linh còn ở cảnh giới thấp), nhưng việc này đòi hỏi con cháu cũng phải thực hiện đúng Pháp thì mới có tác dụng.
II/. Thực tế việc Thờ Tự ở Việt Nam xưa và nay:
1/. Thực tế Thờ Tự Bề Trên:
Trong Bài số 03 "TÍN NGƯỠNG THUẬN TỰ NHIÊN", người chắp bút đã chia sẻ về các Tôn Giáo và Tín Ngưỡng đang thịnh hành ở Việt Nam mà trong đó ngoài các Nhà Thờ của Công Giáo chiếm tỉ lệ cũng nhiều thì còn có không ít các Đền Chùa cùng phối thờ Phật và Thánh, Đình thờ Thành Hoàng, Miếu thờ Thần, Từ Đường thờ Tổ Tiên các dòng họ... Tuy nhiên do thời mạt pháp nên nhiều người khi đi lễ những nơi thờ Bề Trên thường khởi Tâm mong cầu Tài Lộc là chính (thay vì xin được khai sáng Thân Tâm) và ý niệm này lại thuộc về một trong những điều Tham Sân Si Chấp Ngã, đây cũng chính là phương tiện dẫn dụ Vong Tà tới làm giảm linh khí những nơi linh thiêng này đi rất nhiều.
Không những thế, thời mạt pháp cũng còn xuất hiện rất nhiều người giả danh làm việc ở cửa Phật Thánh thực hành chưa đúng giáo lý hoặc biến tướng lai căng làm cho Bách Gia bị mất lòng tin vào Tâm Linh Chân Chính, hy vọng trải qua công cuộc đại thanh lọc đỉnh cao đã và đang diễn ra theo Nhân Quả thì xã hội sẽ sớm được khôi phục để trở về thuận lẽ tự nhiên hơn. Vấn đề này ai đủ nhân duyên thì người chắp bút sẽ chia sẻ riêng vào thời một điểm phù hợp, còn phạm vi bài viết chỉ phân tích việc Thờ Tự ở cấp độ Tổ Tiên đối với dòng họ - Gia Tiên trong mỗi gia đình là chính bởi đó mới đại diện cho Gốc rễ của Bách Gia trăm họ.
2/. Thực tế Thờ Tự Tổ Tiên:
Hiện nay việc Thờ Tự Tổ Tiên đang diễn ra không đồng bộ theo một thước đo chung là Thuận Tự Nhiên mà đa phần: làm theo phong tục cổ xưa để lại nhưng chủ yếu do con người tự đặt ra, làm theo văn hóa vùng miền nhưng có thể lại là hủ tục, làm theo sự suy diễn phần trần từ những người hành nghề phong thủy hoặc tâm linh, làm theo sở thích cá nhân của từng người... Dưới đây là 2 hình thức thờ tự phổ biến mà người chắp bút xin tổng hợp lại để người tham khảo chiêm nghiệm và từ đó có những luận bàn sâu hơn về việc này, trong mục 2.1-2.2 dưới đây người chắp bút có sử dụng 1 số tư liệu hình ảnh đã được các gia chủ đăng công khai trên mạng xã hội để minh họa cho bài viết được dễ hiểu hơn chứ không nhằm mục đích gì khác, rất mong tác giả hoan hỉ.
2.1/. Thờ Tự Tổ Tiên theo lối cổ:
> Có thể nhận thấy rằng từ tâm thức đến cách thức bài trí nhà cửa thì người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng từ rất lâu sẽ luôn đặt nơi Thờ Tự tại vị trí trang trọng nhất trong một ngôi nhà (chủ yếu ở gian giữa từ tường hậu tới cột cái trong nếp nhà cổ). Một bàn thờ theo lối cổ điển hình thường thấy sẽ gồm 3 tầng (hoặc 3 lớp) theo thứ tự từ trong ra là: Thần Án (giường cầu), Thực Án (giường hành) và Hương Án:
+ Thần Án (còn gọi là Ngự Án): cổ nhân coi là trung tâm linh thiêng nhất của bàn thờ và thường làm bằng gỗ để mộc hoặc sơn ta rồi gắn cố định giữa tường hậu với 2 cột quân có vị trí cao nhất trong 3 tầng. Chính giữa Thần Án (gần sát về phía sau) thường bày Ngai thờ, Ỷ thờ, Khám thờ, Giá giương hay Ảnh thờ tùy theo con Trưởng hay Thứ trong gia đình và cho rằng đây nơi ngự của Tổ Tiên. Người xưa nghĩ rằng người chết qua ba đời đã siêu thoát và hoá rồng nên Bài Vị được chuyển đổi thành Long Vị hay gọi là Long Ngai (Ngai Rồng - tựa như hình ngai vàng Vua Chúa). Trên Ngai thờ bày hộp Thần chủ hoặc bài vị chủ, các bài vị thế hệ sau để ở hai bên Ngai theo nguyên tắc nam tả nữ hữu, thứ tự bài vị các đời từ cao xuống thấp tính từ Ngai sang hai bên tả hữu. Bài Vị là thẻ để thờ, bằng giấy hoặc bằng gỗ mỏng, trên đó ghi thông tin vắn tắt nhất về người đã khuất, thời hiện đại thường dùng Ảnh thay thế với nguyên tắc Nam Tả Nữ Hữu để theo hướng nhìn. Ngoài ra trong các Từ Đường dòng Tộc hoặc Nhà Thờ Họ cấp Chi - Nhánh có thể thấy bày thêm một một Bát Hương quả lựu thờ Thần Chủ (cụ Tổ) đặt phía trước Khám - Ngai, còn nếu có hòm sắc cũng thường được bày ở vị trí trước Khám - Ngai.
+ Thực Án: cổ nhân coi là lớp giữa của không gian thờ và có độ cao thấp nhất trong 3 lớp (theo nếp nhà cổ chiếm khoảng không gian từ 2 cột quân ra gần chạm 2 cột cái), phía trước trên cao gắn thêm Y Môn. Đây là nơi có chức năng dâng hiến lễ vật trong các dịp Giỗ Tết và cũng là nơi thụ hưởng lễ vật của Tổ Tiên nên sau khi dâng lễ thì con cháu sẽ thả rèm Y Môn xuống để che khuất, từ không gian này về phía tường hậu cổ nhân cho rằng thuộc về cõi thiêng cần tuyệt đối thành kính và nghiêm cẩn nên hạn chế cho khách lạ hoặc người nhà uế tạp được tiếp cận vào. Ở trên ban Thực Án thường thấy: phía ngoài cùng chính giữa là bày bộ Khay Đài (Mịch) đặt ba chiếc đài gỗ (hoặc đồng) - bên trong đựng 3 cái chén nhỏ để rót rượu khi dâng lễ; 2 bên Khay Đài là 2 Nậm Rượu và 2 cái Đài gỗ cỡ trung (bày đĩa trầu cau và bát nước); phía sau bộ Khay Đài là Mâm Bồng bằng gỗ tiện sơn son hoặc đồng để bày ngũ quả; sau Mâm Bồng là một chiếc mâm vuông có 4 chân (mâm cao hay mâm xà) để đặt mâm xôi gà - thủ lợn khi dâng lễ; ngoài ra còn có đài đựng bát cơm - nhà thì lại dùng Phạn hoặc Liễn. Bên cạnh bàn Thực Án hoặc trên đôn kê trong gầm Thần Án còn có thể là chóe đựng nước để tiện cho việc lấy nước dâng lễ thắp hương hàng ngày.
+ Hương Án: là lớp ngoài cùng tiếp giáp với không gian sinh hoạt của người sống trong gia đình và được kê sát từ Thực Án ra phía bên ngoài 2 cột cái theo nếp nhà cổ (thấp hơn Thần Án và cao hơn Thực Án - chiều cao thứ 2 trong 3 lớp). Trên cao phía trước Hương Án thường được gắn Cửa Võng coi như bức bình phong nhằm ngăn cách và phân biệt không gian Thờ Tự với không gia sinh hoạt. Hương Án thường bày 1 bát hương công đồng (khác bát hương thờ Tổ đặt trên Thần Án nếu có) và được người xưa coi như chức năng là nơi tiếp nhận nghi lễ để chuyển tiếp ước nguyện cũng như lòng thành lên Bề Trên - Thần Linh - Tiên Tổ (là không gian giao tiếp giữa người còn sống và các bậc tiền nhân) nên có thể cho phép con cháu hay khách lạ được kính cáo - dâng hương tại đây, còn hai góc phía ngoài bày hai cây cây đèn tượng trưng cho mặt trời ở bên trái và mặt trăng ở bên phải. Lúc nào cần giao tiếp với Tổ Tiên (sám hối hoặc thỉnh cầu...) con cháu thường châm đèn hay nến rồi thắp hương để những nguyện cầu ấy sẽ theo các vòng khói hương chuyển đến người đã khuất. Phía sau bát hương thường thấy là bộ đỉnh đồng - đỉnh trầm, ngoài ra 2 bên còn có thể bày ống hương, ống hạp (tam, thất sự), hai góc phía trong là 2 bình cắm hoa tươi...
> Về tạo tác đồ thờ theo lối cổ: Ông Cha ta rất quan tâm đến việc lựa chọn nguyên vật liệu, chọn thợ, lựa ngày lành tháng tốt giờ đẹp để chế tác đồ thờ, chọn lựa kỹ các số đo dài - rộng - cao vừa theo phong thủy (chủ yếu là theo thước Lỗ Ban) lại vừa phải tạo kiểu dáng sao cho hài hòa cân đối. Các đồ thờ đều được đục chạm tinh xảo, với các trang trí hoa văn nhất thiết phải mang đậm ý nghĩa tâm linh như tứ linh, tứ quý, hổ phù cùng các hoa lá, hoa dây, triện hóa… các họa tiết này chủ yếu chỉ dành riêng cho đồ thờ chứ ít khi đục chạm cho đồ dùng nội thất khác. Hơn nữa để đảm bảo tính tôn nghiêm và bền vững thì đồ thờ còn được sơn ta, thếp vàng vừa tạo ra vẻ đẹp tâm linh vừa mang tính tách biệt rạch ròi đồ thờ với các đồ dùng thông thường.
> Về đồ dâng lễ thường gồm: Tiền vàng mã, quần áo, bánh kẹo, chè thuốc, trầu cau, nước, đĩa mâm bồng hoa quả, một bình hoa và lấy Đông là nơi khởi sinh, Tây là nơi thành quả (Đông sinh Tây thành), nên Đông bình hoa Tây đĩa quả... Nói chung lễ vật thanh nhẹ hoặc chay thường bày phía ngoài còn lễ mặn như cơm - xôi - thịt - rượu... thường được được bày phía trong.
Mâm ngũ quả cổ nhân thường bày theo thuyết ngũ hành (Kim - Mộc - Thuỷ - Hỏa - Thổ) là những yếu tố tạo nên vũ trụ và sự vận hành của nó gồm 5 loại quả với 5 màu khác nhau như lê trắng, chuối xanh, hồng đỏ, bưởi vàng, quýt da cam... tượng trưng cho mong ước: Phú (giàu có) - Quý (sang trọng) - Thọ (sống lâu) - Khang (khỏe mạnh) - Ninh (bình yên). Mỗi vùng miền lại có một quan niệm riêng về ý nghĩa của mâm ngũ quả nên đều có cách bày biện các loại hoa quả theo truyền thống và quan niệm riêng. Thời nay mâm ngũ quả trên bàn thờ Tết của người Việt phong phú hơn về chủng loại bởi sự góp mặt của những hoa quả ngoại nhập nhưng tựu trung đều là những sản vật đẹp mắt và tinh tuý nhất để dâng bày với những tình cảm hiếu kính - trang trọng - thân thiết nhất lên Tổ Tiên. Bàn thờ Tết của người Việt không chỉ là nơi mà mọi người bày tỏ tình cảm gia đình, huyết thống mà đó còn là nơi gửi gắm những lời chúc may mắn và một năm mới an khang, thịnh vượng hơn.
> Về nguyên tắc thỉnh lễ: Người xưa cho rằng trên bàn thờ Gia Tiên thì thờ Tổ Tiên là cao nhất (Tiên Tổ Thị Hoàng) còn Thần Linh chỉ là phối thờ nên thường khấn Tổ Tiên trước xong mới đến Thần Linh chứng giám. Theo sách Lễ ký cũng có ghi về phân cấp thờ thì: Thiên Tử (Vua) thờ trời, Công Khanh (Quan lại địa phương) thờ Thần Kì Núi Sông còn Dân thờ Cha Mẹ Tổ Tiên. Ở tại gia là nơi thực hành Đạo Hiếu, trong lòng con cháu tưởng nhớ tới Tổ Tiên và coi đó là ngôi vị tối cao trong nhà mình, tuy nhiên quan niệm này từ cổ xưa đã phù hợp Âm Luật (thuận tự nhiên) hay chưa thì đa phần lại chưa được hiểu rõ mà chỉ biết làm theo truyền thống mà thôi và cho rằng cứ lâu đời là chuẩn rồi.
> Về ý nghĩa của việc bao sái bàn thờ theo lối cổ: Bàn Thờ là nơi ngự của Tổ Tiên trong gia đình, vì thế thường được đặt ở vị trí trung tâm và cao nhất trong nhà nên việc lau dọn bao sái sạch sẽ là công việc cần được thực hiện một cách thường xuyên, cẩn thận, tỉ mỉ. Chẳng hạn khăn lau bàn thờ hoặc chổi quét thường được dùng riêng chứ không được dùng chung lau đồ khác, nước lau bàn thờ thường được dùng từ nguồn nước sạch sẽ, rượu gừng, hoặc nước nấu từ các loại lá thơm... Ở trong tâm thức của người Việt thì người đã khuất và người còn sống luôn có một mối quan hệ mật thiết với nhau. Không gian thờ tự là không gian thiêng liêng trong gia đình, là nơi lưu giữ nhiều ẩn ức tình cảm giữa các thế hệ, chính vì thế việc giữ gìn bàn thờ luôn sạch sẽ, linh khí không chỉ thể hiện sự chăm sóc và tôn kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên mà còn là sự chăm sóc đến cái tôi tâm linh ở mỗi con người. Vậy nên không phải đợi tới lúc năm hết tết đến, các dịp giỗ chạp hay tuần rằm mới dọn dẹp và chăm chút bàn thờ mà nên quan tâm thường xuyên. Nhưng cũng phải vào những ngày cận tết thì chúng ta mới thấy hết được không khí bận rộn, tất bật của việc dọn dẹp và chuẩn bị sắm sửa đồ thờ thể hiện cho nhu cầu giao hòa, gắn kết mật thiết giữa thế giới hữu tình với thế giới vô hình thiêng liêng. Cổ nhân cũng cho rằng việc bao sái hay bày biện ban thờ ngày Tết lại được ưu ái dành cho đàn ông vì quan niệm đàn ông là chủ gia đình, phải đại diện chăm lo nơi giáng ngự của Tổ Tiên để tỏ lòng hiếu kính, tuy nhiên vấn đề này có lẽ cũng xuất phát phần nào từ việc trọng nam khinh nữ du nhập từ phương Bắc nên chưa phải thuận theo tự nhiên bởi thời tiền sử thì Phụ Nữ (Mẫu Mẹ) mới lại là Bề Trên. Thời nay thì việc bày biện hay thắp hương (nhang) trên bàn thờ cũng không còn phân biệt nam nữ hay tuổi tác nữa, nhưng cũng không ít gia đình để giữ nếp xưa nên vẫn cử người lớn tuổi nhất họ hoặc nhất nhà ra khấn và thắp hương lễ Tổ Tiên trong những ngày quan trọng như: tất niên, giao thừa, đầu năm mới, giỗ Tổ...
2.2/. Thờ Tự Tổ Tiên theo lối hiện đại:
Như phần chia sẻ trên thì nhà ở dân gian chúng ta vẫn thấy bàn thờ thường cố định tại khu vực trung tâm là gian giữa của nhà. Khi bước vào cửa chính có thể gặp bàn thờ và bộ bàn ghế tiếp khách, là một xếp đặt quen thuộc, hài hòa với cấu trúc không gian nhà ở truyền thống vốn có hàng hiên cũng như sân vườn bao bọc xung quanh. Còn với nhà ở hiện đại có diện tích và cấu trúc không gian khác xưa (chủ yếu là nhà tầng), điều kiện sống và quan niệm trong sinh hoạt cũng có nhiều cải cách thì việc bố trí bàn thờ cũng bị thay đổi rất đa dạng, đồng thời cũng xuất hiện tương đối nhiều vấn đề cần phải suy ngẫm hơn.
> Về việc bài trí nơi thờ trong nhà:
+ Nhà vẫn là cấp 4 thì có nơi bài trí Ban Gia Tiên ở giữa nhà còn Ban Thần Linh thì ở đầu hồi nhà hoặc bên cạnh, nhà thì lại để Ban Thần Linh ngoài trời
+ Nhà thì treo ban thờ Bát Hương Phật ở trên hoặc bên cạnh Ban Gia Tiên (thậm chí có cả Tượng Phật)
+ Nhà thì vừa thờ Phật, Gia Tiên lại có thêm Ban Thần Tài
+ Nhà vài tầng thì có nhà bố trí Bàn Thờ ở Phòng Khách ngay tầng 1, nhà lại bố trí ở tầng trên cùng, nhà có khi lại không lập nơi thờ tự vì nghĩ là con thứ...
+ Nhà chung cư cao tầng thì có nhà bố trí Bàn Thờ ở Phòng Khách nhưng giáp Vệ Sinh căn bên cạnh mà không để ý, nhà thì lại để trong Phòng Ngủ tưởng riêng tư nhưng theo trục đứng thì trên dưới đều là Phòng Ngủ...
> Về việc sắp xếp các đồ trên Bàn Thờ:
+ Nhà thì bày 01, nhà thì 02 - 03, nhà lại bày 05 Bát Hương to nhỏ đôi khi không cân đối tỉ lệ
+ Nhà có thêm ngai, ỷ, khám, đỉnh đồng, lộc bình, hoành phi câu đối, sập, tranh tượng Phật Thánh các loại hoặc rất nhiều ảnh thờ những người mất...
+ Ngày nay có nhà còn đúc cả tượng bán thân Ông Bà Cha Mẹ, thậm chí có nhà còn đúc tượng toàn thân đặt trên Ban Thờ như câc bậc Thánh Nhân...
+ Nhà thì Bàn Thờ bài trí các đồ thờ bị phi tỉ lệ với nhau (ví dụ lộc bình quá to) hoặc treo tranh tạo thành nhiều góc nhọn chiếu vào Bát Hương, hay ở vị trí khó tụ khí, thậm chí để tàn hương quá um tùm dễ ám âm uế nhưng lại tưởng tích Tài Lộc...
2.3/. Vấn đề cần luận bàn: Đa số bách gia đều cho rằng con cháu chỉ cần có Tâm với Tổ Tiên là đủ và muốn làm thế nào cũng được mà không theo chuẩn Âm Luật.
Rõ ràng Tâm vẫn là thước đo đầu tiên để đánh giá mức độ Linh ứng nên mới gọi là Tâm Linh, tuy nhiên nếu chúng ta không thực hành thuận tự nhiên thì Công Đức bồi đắp sẽ không nhiều, thậm chí làm sai còn tích thêm Nghiệp nữa. Dưới đây chúng ta hãy cùng nhau suy ngẫm lại những vấn đề liên quan tới việc Thờ Tự từ cách thờ theo lối cổ cho tới lối thờ hiện đại ngày nay để có cái nhìn sâu sắc hơn và từ đó mỗi người hãy tự cảm nhận xem cần phải làm thế nào cho thuận tự nhiên, phần chia sẻ này có sử dụng một số tư liệu hình ảnh trên mạng xã hội để minh họa cũng như một số tư liệu hình ảnh mà người chắp bút được khai sáng từ Thiên Địa và Thiên Linh Trấn.
+ Bàn Thờ Tứ Linh (Long - Ly - Quy - Phượng) và Ngai - Ỷ - Khám - Giá Gương - Tượng dùng để thờ ai ?
Thiên Địa đã phân chia rất rõ các cấp độ cả về Âm và Dương nên yếu tố Nhân (con người) cần phải hiểu Đạo để thực hành cho đúng mới tránh tạo Nghiệp. Chẳng hạn phần Dương thì chỉ Vua Chúa mới được dùng Ngai, còn phần Âm thì chỉ có Bề Trên (Phật Thánh) mới dùng Ngai và có Tứ Linh hầu cận, vậy Bàn Thờ 3 lớp theo lối cổ mà đặt Ngai có lẽ chỉ để thờ Bề Trên mới hợp cách nhưng nếu Bách Gia cũng dùng thì liệu có bị sái và lỗi? Với Bách Gia để thuận tự nhiên có lẽ chỉ nên dùng Tứ Quý là phù hợp chứ không phải cứ nhiều tiền là muốn phô trương thế nào cũng được ngoại trừ những nhà có người làm chức sắc cao những cũng phải tùy theo cấp nào.
+ Hướng Bàn Thờ theo Long Mạch Âm Đất hay tuổi Gia Chủ ?
Cổ nhân xưa kia trước khi xây dựng các nơi Thờ Tự Bề Trên (Đình Đền Chùa Miếu) thường tìm những nơi đất tốt (Long Mạch lớn) để đặt đúng Huyệt để dưỡng mà giữ gìn Nguyên Khí cho cả vùng đất đó và hướng Bàn Thờ thường trùng hướng công trình và trùng luôn hướng Long Mạch. Với Bách Gia ở vùng nông thôn đất đai còn rộng rãi khi tìm nơi xây dựng Từ Đường dòng họ cũng theo nguyên lý đó, kể cả nhà ở cũng vậy và Bàn Thờ thường được đặt ở gian giữa nhìn theo hướng nhà, còn trùng hướng Long Mạch hay không lại phụ thuộc theo Âm Phúc mỗi người tại thời điểm đó. Vậy việc Thờ Tự là về phần Âm nên để vượng nhất thì hướng Bàn Thờ phải theo hướng Long Mạch Âm Đất mới là cái Gốc mang tính quyết định, nhưng theo tuổi Gia Chủ chỉ là cái Ngọn mang tính bổ trợ mà thôi, còn nếu được cả 2 thì không còn gì để bàn cả. Tuy nhiên với các khu đô thị đất chật người đông ở nhà chia lô đều cùng nhìn ra mặt đường chung thì việc Bàn Thờ cứ đặt một cách máy móc trùng hướng nhà thì có thể lại không trùng hướng Long Mạch, do đó theo Âm Phúc mỗi nhà sẽ cần xem xét cụ thể tại thời điểm xây dựng hoặc thỉnh lô nhang mới chuẩn được.
+ Bát Hương có nguồn gốc từ đâu ?
Thời xưa khi tạo ra trọng tâm cho một buổi dâng lễ để kết nối tâm linh giữa người hành lễ với Bề Trên (Phật, Thánh, Thần Linh, Tổ Tiên) thì người ta thường đốt vật thơm (cỏ thơm, lá thơm, trầm thơm) trong một cái Vạc, sau này chuyển thành cái Đỉnh (có nắp hoặc không và phổ biến hình ảnh này ở thời Lê, nắp đỉnh được vẽ hình con lân với ý nghĩa sức mạnh Bề Trên kiểm soát tinh thần con cháu khi đứng trước bàn thờ). Rồi đến khi con người chế biến những vật thơm thành dạng Que Hương cho tiện dụng cũng như thẩm mỹ thì phát sinh thêm một vật dụng khác để cắm hương chính là Bát Hương. Thường thì Bát Hương cổ xưa có hình dạng rất tương đương và đồng điệu với Đỉnh (còn gọi là Bát Hương quả lựu) vì chính đó là phiên bản của Đỉnh. Khi có hai tự khí trên bàn thờ gần giống nhau thì Đỉnh được chế thêm nắp cho khác Bát Hương đồng thời cũng để cho làn khói được nhỏ đi giúp hài hòa mục đích thờ tự hơn. Mặt khác, việc Thờ Tự từ xa xưa cũng theo ảnh hưởng của Đạo Giáo, Nho Giáo, Phật Giáo trong đó Đạo Giáo có sử dụng một số vật quý để vào một bình hay hộp bày trên bàn thờ hoặc để trực tiếp trong Bát Hương và thường gọi là Thất Bảo. Ở một góc độ nào đó trong Phật Giáo cũng có niềm tin vào cõi Phật linh thiêng vốn dĩ được xây dựng bằng các vật liệu quý nên cũng có khái niệm Thất Bảo. Nhưng dưới thời Lê Trung Hưng thì Tín ngưỡng thờ Mẫu của nước ta có tiếp thu và đẩy mạnh khái niệm đó lên thành Cốt Danh Hiệu của các Chư Vị Bề Trên mà những Thanh Đồng thường phụng thờ theo căn duyên. Và từ đây khái niệm Cốt Bát Hương được mở rộng hơn gồm: các vật quý (Thất Bảo) kèm theo Cốt Giấy ghi Danh Hiệu mà chúng ta hay gặp ngày nay.
Vấn đề ở chỗ là hiện nay có người thì cho rằng Bát Hương chỉ là nơi để Thỉnh chứ không phải để Ngự, nhưng cũng không ít người cho rằng Bát Hương chính là nơi Ngự (hoặc giáng bóng) của phần Âm. Tuy nhiên xét theo góc độ thuận tự nhiên thì Bát Hương chính là nơi Ngự ở không gian chung (hiểu nôm na như ở phòng khách trong ngôi nhà - lớp ngoài) còn Tượng - Ngai thờ Bề Trên hay Ghế thờ Các Quan - Tổ Tiên là nơi Ngự ở không gian riêng (như ở phòng ngủ - lớp trong giống hậu cung của ngôi nhà). Vì vậy cấu trúc 3 lớp Thờ Tự chuẩn âm sẽ là: Ngự Án - Hương Án - Thực Án để đảm bảo Hương Án như vai trò trung tâm kết nối con người là yếu tố Nhân với Thiên Địa. Lưu ý cấp độ Bàn Thờ Tổ Tiên lớp trong cùng có thể thay Ngai bằng Ghế gỗ trạm khắc tứ quý hoặc hoa văn triện bình thường đóng vai trò Ngự Án, lớp ở giữa gồm 03 Bát Hương tượng trưng cho Thiên - Địa - Nhân hợp nhất là Hương Án, lớp ngoài cùng có 3 Mâm Bồng tròn coi như bình phong để bày lễ chay thanh bông hoa quả coi như Thực Án.
+ Bách Gia có tự thỉnh được Bát Hương không ?
Để Bát Hương được linh ứng và có linh khí cao thì đầu tiên cần phải có sự nhất TÂM từ Gia Chủ, sau là cần phải có PHÁP để thỉnh được phần Âm ngự (TÂM + PHÁP). Trước kia vì các Gia Chủ luôn mặc định phần Pháp là phải nhờ các thầy thỉnh lễ hộ nên thường phó mặc toàn bộ, nhưng cũng chính vì điều này lại phát sinh ra rất nhiều rủi ro làm giảm sự linh ứng và thậm chí còn bị Vong Tà xâm nhập bởi: Pháp thầy kém nên thỉnh phần âm chưa đạt, Tâm thầy còn tham sân si nên phần âm không chứng, thầy cố tình trấn yểm Bát Hương nên phần âm không về được... Từ nguyên nhân ấy dẫn tới thời điểm này Âm Luật cũng có những sự thay đổi phù hợp hơn là Bách Gia sẽ nương theo Chữ Pháp phần Âm để Tự thỉnh Bát Hương kèm theo sự nhất Tâm của toàn thể gia đình (quan trọng nhất là của 2 vợ chồng), có vậy mới đủ Tâm Pháp để đảm bảo sự linh ứng chứ không phải như nhiều thầy hiện tại cũng đang hướng dẫn Bách Gia tự thỉnh Bát Hương nhưng lại chỉ hướng dẫn làm nôm na theo các bước Thủ Tục phần Dương (tức là chỉ có Tâm mà thiếu Pháp) thì Bát Hương ít linh khí. Mục đích của việc Tự thỉnh Bát Hương: Thứ nhất là khi mỗi người tự làm việc này mới có thể cảm nhận và hiểu hết được giá trị cội nguồn của việc Thờ Tự Tổ Tiên ra sao để hàng ngày biết chăm sóc với lòng thành kính sâu sắc nhất chứ ko phải làm theo phong trào cho đủ rồi sau đó để hương tàn khói lạnh vì nghĩ rằng mình đã nhờ Thầy làm hộ là xong rồi; thứ hai là tránh được việc các Thầy Tà do mình nhờ Lễ có thể trấn yểm Lô Nhang (coi như trấn Nhà mình) thì Các Quan và Gia Tiên sẽ không ngự được mà chỉ có Âm Binh quấy phá sau này sẽ nguy hiểm vô cùng. Xin lưu ý rằng Thất Bảo trước đây chỉ là những Vật Quý có tác dụng tăng linh khí cho Bát Hương chứ không phải bắt buộc phải có thì mới linh ứng, ngay cả Cốt Danh Hiệu cũng vậy chỉ là phần Trần do con người viết ra còn phần Âm chứng hay không lại là một việc khác, hiện nay nhiều người đang nhầm lẫn việc này nên cứ nghĩ thờ ai rồi viết Danh Hiệu là xong và có thể làm rất cẩn thận phần Dương mà phần Âm lại không mấy tác dụng.
+ Bàn Thờ Gia Tiên thờ những ai ?
Kể từ khi Nho Giáo du nhập vào nước ta thì Đạo Hiếu được đề cao làm cho tục Thờ Tự Tổ Tiên có một nền tảng triết lý sâu sắc, vấn đề gia trung gia đạo và đặc biệt là sự vinh danh những công lao hiển hách của Ông Cha luôn được đề cao. Tới thế kỷ XV thì Nho Giáo hầu như chi phối toàn bộ đời sống xã hội và nhà Lê đã thể chế hóa việc Thờ Tự Tổ Tiên, bộ luật Hồng Đức quy định rõ việc con cháu phải thờ Tổ Tiên 5 đời (tính từ Đời Mình là Nhất Đại, Cha Mẹ là Nhị Đại, Ông Bà là Tam Đại, Cụ là Tứ Đại, Kỵ là Ngũ Đại) đồng thời không được cầm bán nơi thờ tự Tổ Tiên… Cũng theo phong tục cổ truyền thì Ngũ Đại Mai thần chủ (tức hết năm đời thì chôn thần chủ) hoặc sau năm đời sẽ tống giỗ, tức là cao hơn 5 đời gọi chung là Tiên Tổ thì không lễ giỗ riêng nữa mà rước Tiên Linh các đời ấy vào thờ chung trong một Nhà Thờ của Đại Tôn (Từ Đường) hay của từng Tiểu Chi gọi là Hợp Tự để dâng lễ chung vào ngày giỗ Tổ hoặc các dịp lễ chung quan trọng khác, nơi đây ngành Trưởng sẽ phải có trách nhiệm cao hơn để chăm lo hương hỏa hàng năm. Cho đến thời Nguyễn thì nghi lễ Thờ Tự Tổ Tiên cũng lại được ghi rõ hơn trong sách “Thọ Mai Gia Lễ”. Tuy nhiên những ghi chép trên sách vở cho dù từ thời cổ xưa thì đa phần vẫn do người Trần tự đặt ra và nghĩ rằng lâu đời là luôn đúng nhưng xét theo góc độ Âm Luật thì lại không hẳn như vậy bởi Tổ Tiên phải từ Cửu Huyền Thất Tổ bao gồm còn nhiều đời cao hơn nữa có thể vẫn chưa đầu thai chuyển kiếp mà con cháu chưa biết nên theo phần Âm thì mỗi con cháu khi được sinh ra trong dòng họ đó đều phải có trách nhiệm lập nơi thờ tự tại gia nếu có nhà riêng và thỉnh đủ từ Cửu Huyền Thất Tổ để khi cần Tổ Tiên nhiều đời vẫn có thể về được (điều này người chắp bút đã thống nhất chung dùng từ Tổ Tiên ở đầu bài viết), còn việc thờ tự chung tại Từ Đường dòng họ lại là một việc khác song hành, đây cũng chính là thuận lẽ tự nhiên chứ không phải chúng ta chỉ biết quan tâm tới các Cụ gần đời mình nhất. Một vấn đề nghịch lý khác, người xưa quan niệm rằng Tổ Tiên như Hoàng Đế trong nhà và làm Chủ nên mới có câu "Tiên Tổ Thị Hoàng" rồi coi Thần Linh chỉ là Khách xong từ đấy sinh ra 2 cách bài trí: Bàn Thờ Gia Tiên ở chính giữa, còn Bàn Thờ Thần Linh lại ở gian bên cạnh hoặc đầu hồi (thậm chí chỉ là ban treo tường). Nhưng thực tế thuận theo tự nhiên phần Âm thì Thần Linh cai quản đất đó đương nhiên là Chủ (cao hơn còn có hàng Thánh) và Tổ Tiên chỉ là nương bóng tại đấy nên vẫn dưới sự cai quản của Thần Linh (gọi đầy đủ phải là Hội Đồng Các Quan), điều này hiểu nôm na giống như phần Dương con người cũng chỉ là Sở Hữu mảnh đất nào đó khi mua và vẫn phải theo sự quản lý của các cấp Chính Quyền tại đó. Vậy nên cấu trúc bài trí Bàn Thờ thuận tự nhiên mới là 3 Bát Hương: chính giữa là Hội Đồng Các Quan, bên Tả tính theo chiều nhìn ra là Hội Đồng Gia Tiên, bên Hữu là Hội Đồng Bà Cô Ông Mãnh.
Câu hỏi đặt ra là làm sao để hiểu được Âm Luật? Nếu Tâm người nào sáng và đủ Đức Tin thì khi hội đủ nhân duyên sẽ tự khắc được khai sáng một cách tự nhiên những tri thức về Âm Luật chứ không hẳn từ nghiên cứu sách vở. Vậy nếu ai đó vẫn còn nghi ngờ hoặc không tin điều này thì có thể dành thời gian suy ngẫm thêm trước khi vội vàng phản bác để tránh tạo Nghiệp bởi khi trong Tâm ta nổi sân si thì sẽ dễ bị những tà kiến xâm nhập không hay, khi đó lập tức nhẩm Chú Đại Bi khai quang có thể ta sẽ thấy hoan hỉ hơn.
+ Nhà có Vong Tà thì nên tự Hồi Hướng hay phải nhờ thầy lễ ?
Việc giải vong tà cần theo đúng pháp phép trên Thiên chứ ko nên làm theo kiểu nhiều thầy đang làm là trấn giữ tà vì trái Luật Nhân Quả. Và việc này theo luật âm mới rất đơn giản, ko phải phức tạp tốn kém, nhiễu nhương như các khóa lễ hầu hết các thầy đang làm đôi khi lại rước thêm vong tà về nhà mà không biết. Quan trọng nhất là tự Tâm gia chủ phát ra ứng với Đất Trời thì sẽ chuyển hoá được cái Tâm của vong tà đó mới là thuận lẽ tự nhiên. Cách làm thì chỉ cần nương theo chữ Pháp (còn gọi là chữ Thiên) cộng với Gia Chủ nhất tâm tụng đủ liền mạch 108 lần Chú Đại Bi hồi hướng là dần chuyển hóa được.
+ Có phải ai cũng được thờ Phật không ?
Bấy lâu nay chúng đều chỉ nghĩ đơn giản là Kính Phật thì có thể được lập lô nhang Thờ Phật hay thỉnh Tượng Phật về bày, thậm chí ngay cả một số thầy tu chùa cũng tư vấn điều này chắc có lẽ đơn thuần cho rằng chỉ cần thành Tâm là đủ, rất tiếc theo Luật Âm thì không hẳn như vậy. Lý do bởi Phật ở cảnh giới rất cao nên số người có căn Duyên cửa Phật chắc chỉ đếm được trên đầu ngón tay và còn khó hơn bên Cửa Thánh cũng phải đủ nhân duyên mới được lập lô nhang thờ tự các Ngài. Còn với những người không có căn duyên thì chỉ có thể Kính Phật trong Tâm hoặc được phép treo ảnh Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trên Bàn Thờ Gia Tiên để chiêm bái hàng ngày bởi Ngài đã phát hạnh nguyện Phổ Độ Chúng Sinh từ rất lâu rồi, đặc biệt trong thời mạt pháp hiện nay nếu mỗi người còn biết đọc Chú Đại Bi của Ngài hàng ngày sẽ vô cùng lợi lạc. Việc thờ Thánh khi thầy thỉnh đã phải có Pháp rất cao mới thỉnh được, và Phật thì cao hơn nữa nên Pháp của người Thầy đó lại phải cao hơn rất rất nhiều thì mới có thể thỉnh chứ không phải Phật nào cũng ngự bừa bãi khắp nơi. Thông thường chúng ta chỉ hiểu Phật là Từ Bi nên nhiều khi nghĩ rằng ai làm sai thì chỉ cần biết sám hối là xong mà chưa hiểu thấu đáo rằng sám hối chỉ là để ta biết cái lỗi đó mà ngừng lại còn Nghiệp thì không thể xóa bỏ bởi nó tuân theo luật Nhân Quả của Vũ Trụ. Mặt khác Phật đứng giữa Thiện và Ác, giữa Trí Tuệ và Từ Bi - bên cao hơn sẽ là Trí Tuệ nên khi ai làm sai thì vẫn phải trả giá, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.
Cụ thể hơn, Phật hướng Chúng Sinh hiểu rõ cũng như vận hành theo Luật Nhân Quả của Vũ Trụ chứ không phải bỏ qua tất cả như chúng ta thường nghĩ một cách nôm na là chỉ cầu xin tha thứ sẽ đạt được kết quả.
Để được thờ Phật đòi hỏi người đó thực sự phải có căn duyên Cửa Phật và tuân thủ theo giới luật của nhà Phật mới đảm bảo sự linh ứng. Còn Bách Gia không có căn duyên cửa Phật mà chỉ có Tâm nhưng cũng lập lô nhang (thậm chí cả Tượng) thờ Phật là bị lỗi bởi chưa thể đáp ứng được giới luật của Cửa Phật (ví dụ: người thỉnh lô nhang thờ Phật không đủ Pháp, người hoặc không gian thờ Phật không đảm bảo sự tôn nghiêm, thanh tịnh...). Và khi thờ Phật không linh ứng thì người đó sẽ tạo Nghiệp vô cùng nặng mà không hề hay biết, thậm chí nhiều người còn thờ Phật chung tại không gian thờ Gia Tiên nên có thể vô tình rước Tà về nhà gây nhiễu nhương để rồi cùng nhau góp phần tạo nên một xã hội của thời mạt pháp như hiện nay. Tóm lại, chúng ta có Tâm hướng Phật thì nên học theo những điều hay lẽ phải ở giáo lý của nhà Phật mà vận dụng trong cuộc sống nhưng không phải ai cũng được phép thờ Phật. Bởi vậy để hướng tới một xã hội bền vững thì đòi hỏi mỗi người phải hiểu thấu đáo về Âm Luật mà thực hành Tâm Linh Chính Đạo cho đúng, có thế mới tránh bị tạo Nghiệp sâu dày khi sống một kiếp người ngắn ngủi đúng như Đức Phật đã nói là có được Thân Người thật trân quý biết bao. Dưới đây minh họa một số hình ảnh Bàn Thờ Phật trên mạng xã hội do nhiều gia đình cho rằng chỉ cần nhất Tâm kính Phật hoặc Quy Y là có thể tự lập mà chưa rõ đã đủ nhân duyên phần Âm thờ Bát Hương và Tượng Ngài hay không.
+ Tầm quan trọng của Chú Đại Bi và Đức Quan Thế Âm Bồ Tát thời mạt pháp như thế nào ?
Quán Thế Âm là vị Bồ Tát quan sát chúng sinh khổ đau trong thế gian mà khởi lòng đại bi, đoạn trừ phiền não, làm cho chúng sinh được an lạc. Ngài là hình ảnh của đại từ đại bi, của tình thương bao la, vì bi nguyện độ sinh. Ngài có thể hóa hiện từ trên thân Phật, dưới cho đến thân quỷ dạ xoa, la sát để hóa độ chúng sinh. Chính sự hóa thân đó đã làm cho hình ảnh của Ngài nói riêng, Phật giáo nói chung trở nên năng động và tích cực hơn trong việc cứu khổ độ sinh vậy. Vì Ngài đã phát nguyện phổ độ Chúng Sinh nên chúng ta có thể treo bức Tranh mà Ngài đã ứng Hình Tướng cùng Đôi Sen Gỗ trên Ban Thờ Gia Tiên để chiêm bái hàng ngày và kết hợp đọc Chú Đại Bi thì vô cùng lợi lạc trong thời mạt pháp này (lưu ý không được thờ Tượng hoặc Bát Hương Ngài nếu chưa đủ nhân duyên). Chú Đại Bi là bài Chú mà mẹ hiền Quán Thế Âm Bồ Tát rút ruột phát nguyện cho tất cả các con của Ngài, chỉ cần phát tâm tụng lên hoặc nhẩm trong Tâm có thể: làm thanh sạch chính con người mình (tà Tâm và tà ngoài); tránh cho tà khác nhảy vào xâm hại đến mình hoặc chiếu mình; nhân đồ lễ dâng Bề Trên và Tổ Tiên; bảo vệ đồ lễ (đồ thiêng) khi dâng đồ để ko bị tà vong nhảy vào cướp mất; hồi hướng cho các Vong Tà... Tựu chung lại Chú Đại Bi dùng trong mọi hoàn cảnh được và có hiệp lực xin Đất Trời trợ duyên vô cùng lớn, bởi vậy trong thời mạt pháp này thì mỗi chúng ta nên đọc thật nhiều Chú Đại Bi hàng ngày để thanh lọc Thân Tâm mà có chút vốn để đối diện với công cuộc Đại Thanh Lọc đầy cam go này.
+ Có nên đặt hoặc treo ảnh người mất trên Bàn Thờ ?
Thực tế hiện nay đa phần đều chưa hiểu rõ theo phần âm thì sau khi mất 100 ngày thì Vong Linh không được phép thờ riêng nữa mà phải thỉnh lên ngự chung Bát Hương Hội Đồng Gia Tiên hoặc Hội Đồng Bà Cô Ông Mãnh nếu mất trẻ. Lý do vì sau 100 ngày Vong Linh đó phải đi về nơi cảnh giới được định nghiệp rồi, nếu ở cảnh giới bình thường thì hàng ngày vẫn có thể đi về Bàn Thờ Gia Tiên nhưng ở cảnh giới thấp thì chỉ được về những dịp Giỗ Tết và Rằm tháng 1-7-12 mà thôi. Có nhà sau 1 hoặc 3 năm mới thỉnh lên Bàn Thờ là bị sái và khoảng thời gian thờ riêng đó là vô nghĩa vì Vong Linh cũng không được phép ngự riêng, khi đấy Vong Tà có thể lại xâm nhập rồi phát sinh nhiễu nhương mà không hay. Rồi khi thỉnh Vong Linh lên Bàn Thờ lại chuyển cả ảnh thờ đó lên cùng, nếu nhiều ảnh thì sẽ rất lộn xộn. Bàn Thờ Tiên Tổ là để thờ cửu huyền thất tổ của các dòng họ mà con cháu xin thờ, và như vậy có nghĩa là thờ rất nhiều Cụ vẫn còn ở cõi âm chưa siêu thoát hay vãng sinh, vậy ảnh thờ để 1 vài cụ là không phù hợp.
Mặt khác nếu treo hoặc để ảnh người mất thường khung ảnh cao hơn Bát Hương Các Quan nên vô tình tạo thành lỗi Âm mà không biết và dẫn tới tạo thêm Nghiệp. Hơn nữa treo quá nhiều ảnh còn àm cho không gian Bàn Thờ trật trội và từ đó dễ ám âm uế có thể dẫn tới nhanh thoát khí (linh khí khó tụ), hàng ngày người Trần nhìn ảnh Vong Linh nhiều lần có thể vô tình làm khuấy động quá trình tu tập của người Âm và làm giảm công đức của họ (kể cả ra mộ không đúng thời điểm cũng thế). Vì vậy Tâm của con cháu hướng tới và tôn kính Tổ Tiên là điều rất trân quý nhưng cần phải tuân theo đúng Âm Luật mới có thể lợi lạc cho cả phần Âm và Dương được. Để khắc phục điều này thì gia đình có thể dành riêng một tủ lưu niệm bày ảnh các Vong Linh vào đó nếu vẫn muốn chiêm bái thường xuyên, còn không thì có thể cất kín đi hoặc đưa vào gia phả là được.
+ Có phải Thần Tài ở đâu cũng thờ được ?
Bấy lâu nay xuất phát từ nhu cầu rất cần thiết trong cuộc sống là vấn đề Tài Chính nên bất kể ai khi đã kinh doanh đều phải nghĩ đến việc lập Bàn Thờ Thần Tài, tuy nhiên cũng không mấy người hiểu được theo phần Âm của Việt Nam thì Thần Tài là chư vị nào và thờ ra sao cho đúng. Dưới đây minh họa một số hình ảnh Bàn Thờ Thần Tài trên mạng xã hội do nhiều gia đình lập nên với mong muốn việc làm ăn luôn được phát đạt.
Thực ra Bàn thờ Thần Tài không dùng tượng vì bản chất Ngài Thần Tài là 01 vị Quan tại khu vực đó, mỗi năm sẽ có 01 vị Thần Tài khác nhau được cử về Cai quản Tài lộc tại 01 khu vực. Cho nên việc dùng 2, 3 tượng tại ban Thần Tài như hiện nay là theo Trung Quốc truyền bá nhưng ko ứng ở tâm linh nước ta. Mặt khác việc bố trí Bàn Thờ Thần Tài thường ở ban dưới HĐ Các Quan và cũng cần lưu ý tránh bị các lỗi về Phong Thuỷ thì mới tụ Khí để tụ Tài Lộc được (chẳng hạn hướng phải theo Long Mạch Âm Đất chứ không phải theo tuổi Gia Chủ...). Một vấn đề cần lưu tâm là không phải nhà nào đất nào cũng có Ngài Thần Tài, việc soi xem âm đất nào có Ngài Thần Tài ngự là nhiệm vụ của các thầy Tâm Linh Chân Chính. Nếu gia trung gia đạo các nhà không tự khởi lên hỏi thì sẽ không bao giờ được biết Ngài Thần Tài, mặt khác đất nào ko có Ngài Thần Tài ngự mà bốc bát hương thờ Ngài thì sẽ ko linh ứng, dần dần dễ bị vong tà nhảy vào ngự, có thể vẫn cho Lộc nên rất tin tưởng nhưng bản chất là Lộc Tà và không bền vững vì trái Nhân Quả. Tóm lại việc thờ Thần Tài tự phát theo phong trào nhưng chưa đúng Luật Âm như hiện nay đang góp một phần làm cho vong tà có nơi cư ngụ để cùng tạo nên một thời kỳ mạt pháp, mong rằng mỗi chúng ta hãy suy ngẫm lại một cách nghiêm túc về vấn đề này để tránh tạo thêm Nghiệp. Dưới đây là cách thờ phối thờ thuận tự nhiên khi đất nào đó có Ngài Thần Tài ngự, còn Hội Đồng Các Quan sẽ ở Ban trên và Thần Tài ngự Ban dưới, những trường hợp đặc biệt thì có thể ngự chung Bát Hương (không phải Thần Tài ngự dưới nền nhà như thực tế).
+ Có nên dâng đồ mã không ?
Người cõi Âm sẽ chứng đồ Lễ và đỗ Mã bằng cảm thức theo cảnh giới và chủ yếu thông qua Màu Sắc - Hình Tướng - Mùi Vị do người Dương (yếu tố Nhân) dâng biếu nhưng phải nhất Tâm mới linh ứng, tuy nhiên không phải người âm nào cũng thụ được vì phụ thuộc vào cảnh giới đó có được nhận hay không (chẳng hạn người Âm đang ở cõi Địa Ngục thì không thể). Bởi vậy việc đốt đồ Mã dâng người Âm là có tác dụng nhưng phải theo Luật Âm từ việc đồ Mã đó làm đúng hay sai, có thanh tịnh không, người nhận có đủ duyên nhận được không…?
Với Đạo Phật sẽ hướng tới con người ta khi mất đi là buông bỏ Tham – Sân – Si – Chấp – Ngã để được lên cảnh giới cao hơn nên không tồn tại tục đốt đồ Mã, tuy nhiên có mấy người hướng tới được điều đó (vì thực tế các chân linh khi thác đi được độ về cảnh giới cửa Phật chắc chưa nổi 1%, tức là hơn 99% số chân linh còn lại vẫn cần người Dương dâng Mã để cảm thức cũng như để có công cụ trong con đường tu tập tại kiếp luân hồi). Do đó truyền thống từ Ông Cha để lại thành tập tục lâu đời là khi mất vẫn phải nương theo Thân Xác (Mộ Phần) và những vật dụng đời thường để khi đó tục đốt đồ Mã vẫn còn tồn tại đến ngày nay mà chưa thể bỏ hẳn, việc này chỉ khi nào xã hội phát triển đến mức tột đỉnh theo Phật Pháp chính thống thì mới thành công. Cũng chính vì Tâm người Âm cũng như người Dương chưa thoát được ở mức độ cao nhất nên còn nhiều Tham Sân Si và biến tướng tục đốt đồ Mã theo góc độ Mê Tín mang nặng tính thương mại do đó ngày càng xa dời Tâm Linh chân chính.
Từ việc đồ Mã xưa chỉ là Tranh Vẽ (tranh Đông Hồ trên giấy dó) nay đã trở thành Mã Thật gây tốn kém và ô nhiễm môi trường nặng nề làm cho xã hội đi ngược với quy luật của tự nhiên. Mà những gì đi ngược với tự nhiên muôn đời nay thì sớm muộn cũng sẽ bị hủy bỏ. Mặt khác Mã Thật cũng là 1 văn hóa được du nhập từ nước bang giao chứ không phải là văn hóa gốc của nước Việt, và việc du nhập này nằm trong mưu đồ đồng hóa văn hóa nước Việt từ thời cổ đại (Tần Thủy Hoàng). Tóm lại, việc biếu đồ Mã dâng người Âm trong thời điểm Tâm Linh hiện tại là việc vẫn nên làm bởi người Âm vẫn còn phải nương theo yếu tố đó từ người Dương để cảm nhận được cái Tâm của con cháu cùng với đồ Lễ. Mong rằng đến khi xã hội phát triển ở tầm cao nhất là nhà nhà người người được độ về tu tập theo Cửa Phật thì con người không còn chấp ngã vào Thân Xác, vào Mộ Phần, không còn chấp ngã vào những vật dụng đời thường thì khi đó mỗi người chỉ coi kiếp Người là một nơi bến Đạo tu tập để giải Nghiệp mà thôi. Có một điểm tích cực theo Luật Âm mới đã có một sự thay đổi từ năm 2018 là khôi phục Mã Vẽ truyền thống và đây là một bước tiến lịch sử trong hành trình phát triển của Tâm Linh nước Việt, thể hiện sự nhất thống trong Tâm Linh phần Dương và Âm: giống như Tiền Trần chỉ có thể phát hành duy nhất từ Ngân Hàng Nhà Nước thì Tiền Âm và Mã Âm cũng chỉ được phát hành duy nhất tại nơi nào được ứng phần Âm mới có tác dụng mà thôi. Mã Vẽ sẽ tránh được lãng phí, ô nhiễm, thanh tịnh, nhỏ gọn và quan trọng là linh ứng theo Luật Âm. Lưu ý khi hóa phải đọc đủ 09 lần Chú Đại Bi mới có tác dụng nhân lên nhiều lần số đồ Mã đó và tránh được Vong Tà cướp mất.
+ Các đồ Kim khí (như Đồng hay Bạc) có nên dùng nhiều ở nơi thờ ?
Đây là chất liệu có Dương khí rất mạnh nên nếu trên Bàn Thờ đặt Bát Hương đồng/ Đỉnh đồng/ Hoành Phi Câu Đối đồng (đặc biệt là Bàn Thờ Tổ Tiên), thậm chí có nơi còn dùng tất cả các đồ thờ bằng đồng liệu có bị mất cân bằng âm dương hay không? Nếu có dùng cũng chỉ nên ở mức độ vừa phải để đủ ngũ hành tại nơi thờ tự đó mà thôi. Dưới đây minh họa một số hình ảnh Bàn Thờ trên mạng xã hội đã dùng rất nhiều đồ kim khí như một minh chứng thực tế cho vấn đề này.
III/. Thờ Tự Thuận Tự Nhiên:
Như đã chia sẻ ở "Bài số 00", bản thân người chắp bút đã được tiếp xúc nhiều năm không chỉ từ sách vở mà còn cả trong thực tế rất nhiều thầy thuộc về các lĩnh vực: thầy lý số, thầy phong thủy, thầy pháp, thầy cúng, thầy đông y... nhưng đa số thường chỉ để ý tới cái Ngọn phần Dương là nêu ra được vấn đề mà chưa đi sâu vào Gốc rễ làm sao cho đúng phương pháp hướng Bách Gia cụ thể tới việc bồi Phúc Âm mới thực sự bền vững. Chính vì vấn đề này mà người chắp bút lại mất thêm nhiều năm sau đó để đi tìm câu trả lời rồi may mắn cuối cùng cũng đủ nhân duyên được khai sáng giác ngộ sâu hơn vậy nên khi chia sẻ một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực thuận tự nhiên sẽ luôn có dẫn dắt từ phần Dương để minh chứng cho việc đã trải qua ấy rồi kết hợp theo phần Âm thuận tự nhiên sao cho Âm Dương luôn hài hòa mới trọn vẹn. Những tri thức được khai sáng từ Thiên Địa và Thiên Linh Trấn ấy người chắp bút xin tổng hợp lại dưới đây một số vấn đề chung nhất và mong rằng người tham khảo nếu đủ nhân duyên thì hãy suy ngẫm thêm để đối chiếu vào việc Thờ Tự của gia đình mình xem đã thuận tự nhiên chưa, nếu người tham khảo không trùng quan điểm thì xin vui lòng bỏ qua bài viết này và tránh có những bình phẩm tiêu cực để hạn chế Khẩu Nghiệp.
1/. Vị Trí đặt Bàn Thờ:
Bàn Thờ nên đặt ở vị trí trang trọng - sạch sẽ - không bị động trong ngôi nhà. Lưu ý Bàn Thờ không ở trên hoặc dưới khu Vệ Sinh, cũng không nên ở giáp cạnh tường Vệ Sinh, phía tường hậu kê Bàn Thờ không nên trổ cửa sổ, phía trước cũng không nên nhìn vào khu Vệ Sinh... Với nhà ở gia đình vài tầng thì Bàn Thờ nên để ở tầng trên cùng, trường hợp nhà có người cao tuổi để tiện việc đèn nhang mà để ở tầng 1 thì phía trên nên chỉ là sân chơi hoa cảnh. Với nhà chung cư cao tầng Bàn Thờ nên bố trí ở trục Phòng Khách để tránh ở trên dưới các Phòng Ngủ. Không ít người cho rằng ngay cả chung cư cao tầng thì vẫn có máy bay hoặc chim chóc phía trên nên không cần thiết phải cầu kì làm gì, nói vậy thì không hẳn là sai nhưng chưa đủ bởi chúng ta xuất Tâm thờ tự Tổ Tiên thì phải luôn có ý niệm trong đầu là dành những thứ tốt đẹp nhất dâng các Cụ và vẫn phải phù hợp gia cảnh hiện tại của mình chứ không phải chỉ làm à uôm theo phong trào. Tất nhiên việc này không có đúng sai mà chỉ là đạt điểm mấy thôi, khi làm thuận tự nhiên thì được điểm cao (có Công Đức) còn khi làm chưa chuẩn thì điểm thấp hoặc có khi còn bị điểm âm (tức là tích Nghiệp).
2/. Hướng Bàn Thờ:
Đại đa số hiện nay chủ yếu đều chọn Hướng Bàn Thờ theo tuổi của Chủ Nhà phần Dương (Ngọn) vì là hữu hình dễ nhận biết. Tuy nhiên Bàn Thờ lại là thờ về phần Âm nên phải theo Hướng Long Mạch Địa Thế chung khu đất mới được Vượng Khí nhất bởi đó mới là cái Gốc thuận lẽ tự nhiên, vì nó là vô hình bởi vậy rất ít người biết và cũng tùy nhân duyên. Có thể Đất đó ứng nhiều đời Long Mạch vẫn như vậy nhưng cũng có những trường hợp khi đời sau bồi Âm Phúc đủ lớn thì hướng Thờ lại được đổi sang hướng Long Mạch tốt hơn chứ không phải bất di bất dịch. Long Mạch Âm Đất mỗi nơi một khác nhau và mỗi mảnh đất có thể có vài Long Mạch lớn nhỏ đồng thời sẽ ứng với cung Phúc mỗi nhà ở thời điểm đến ở.
3/. Bài trí các lớp Bàn Thờ:
3.1/. Theo lối cổ với không gian rộng nhưng thuận tự nhiên gồm 3 lớp chênh nhau về độ cao:
+ Lớp trong cùng cao nhất là Thần Án (Ngự Án) có thể bày Ghế gỗ ngự cho Thần Linh và Gia Tiên (tương đương như bày Ngai thờ Bề Trên nhưng ở đây chỉ là cấp độ Thần Linh và Tổ Tiên)
+ Lớp giữa cao vừa là Hương Án gồm 03 Bát Hương bằng Gốm đại diện cho Thiên Địa Nhân: Tính theo chiều nhìn từ trong ra thì ở giữa là Bát Hương Hội Đồng Các Quan to nhất, bên Tả (trái) là Bát Hương Hội Đồng Gia Tiên bằng với bên Hữu (phải) là Bát Hương Hội Đồng Bà Cô Ông Mãnh (4 họ) đặt trên 3 chân đế gỗ tròn. Lớp Hương Án và Ngự Án ở phía trong coi như hậu cung để hạn chế tối đa bị động.
+ Lớp ngoài cùng thấp nhất là Thực Án gồm 03 mâm bồng tròn đặt phía trước 03 Bát Hương bày đồ lễ chay (ngũ quả, bánh kẹo...) và đóng vai trò làm Án cho 03 Bát Hương không bị chiếu thẳng vào. Trên Bàn Thờ còn bày lễ mặn dâng Các Quan vào tuần rằm và các dịp lễ Tết chứ không phải chỉ lễ chay như nhiều người vẫn thực hành trước đây hoặc bị hiểu sai là quy y Phật thì không dâng lễ mặn nữa.
Ngoài ra vào các dịp quan trọng như Giỗ, Tết, Rằm Tháng 1-7-12 thì còn có mâm cơm canh dâng Tổ Tiên đặt trên 01 bàn thấp hơn phía trước Bàn Thờ, có thể là bàn con đặt trên sập tạo thành 5 lớp từ trong ra.
Hơn nữa ở trên cũng như hai bên Bàn Thờ tùy theo gia cảnh có thể bày thêm các đồ thờ khác để đủ Âm Dương Ngũ Hành như: Hoành Phi Câu Đối - Y Môn - Cửa Võng nhưng chỉ đục trạm tứ quý hoặc hoa văn đơn giản chứ không phải tứ linh, đôi lọ hoa và đôi lộc bình gốm, đôi chân nến gỗ hoặc gốm, nậm chóe, kỷ, đỉnh gỗ nhỏ để xông trầm...
Lưu ý tỉ lệ Bàn Thờ nên cân đối với Phòng Thờ và tỉ lệ các đồ thờ nên cân đối với nhau trên Bàn Thờ để hài hòa tổng thể.
3.2/. Theo lối hiện đại với không gian nhà tầng nhưng thuận theo tự nhiên cũng gồm 3 lớp và thường trên cùng mặt phẳng:
+ Lớp trong cùng là đôi sen gỗ kèm ảnh Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (không phải Tượng hoặc Bát Hương Ngài), lý do thời nay nên treo đã được phân tích ở trên, còn gia đình nào thấy không hoan hỉ có thể bỏ qua.
+ Lớp ở giữa gồm 03 Bát Hương bằng Gốm đại diện cho Thiên Địa Nhân: Tính theo chiều nhìn từ trong ra thì ở giữa là Bát Hương Hội Đồng Các Quan to nhất, bên Tả (trái) là Bát Hương Hội Đồng Gia Tiên bằng với bên Hữu (phải) là Bát Hương Hội Đồng Bà Cô Ông Mãnh (4 họ) đặt trên 3 chân đế gỗ tròn. Với không gian nhà ở hiện đại chỉ với một Bàn Thờ chung thì Bát Hương có vai trò quan trọng nhất vì là nơi giáng ngự của Các Quan và Tổ Tiên các họ theo vợ chồng Gia Chủ, vì vậy Bát Hương cần trang nghiêm thanh tịnh và tránh bị động.
+ Lớp ngoài cùng gồm 03 mâm bồng tròn đặt phía trước 03 Bát Hương bày đồ lễ chay (ngũ quả, bánh kẹo...) và đóng vai trò làm Bình Phong cho 03 Bát Hương không bị chiếu thẳng vào. Trên Bàn Thờ còn bày lễ mặn dâng Các Quan vào tuần rằm và các dịp lễ Tết chứ không phải chỉ lễ chay như nhiều người vẫn thực hành trước đây hoặc bị hiểu sai là quy y Phật thì không dâng lễ mặn nữa.
Ngoài ra vào các dịp quan trọng như Giỗ, Tết, Rằm Tháng 1-7-12 thì còn có mâm cơm canh dâng Tổ Tiên đặt trên 01 bàn thấp hơn phía trước Bàn Thờ, có thể là bàn con đặt trên sập tạo thành 5 lớp từ trong ra, nếu Phòng Thờ hẹp thì thay sập bằng thảm và dùng bàn cơm cơ động.
Hơn nữa ở trên cũng như hai bên Bàn Thờ tùy theo gia cảnh có thể bày thêm các đồ thờ khác để đủ Âm Dương Ngũ Hành như: đôi lọ hoa và đôi lộc bình gốm, đôi chân nến gỗ hoặc gốm, nậm chóe, kỷ, đỉnh gỗ nhỏ để xông trầm...
Lưu ý tỉ lệ Bàn Thờ nên cân đối với Phòng Thờ và tỉ lệ các đồ thờ nên cân đối với nhau trên Bàn Thờ để hài hòa tổng thể.
* Ghi chú: Bàn Thờ có 4 chân là chắc chắn nhất cả về Âm Dương nên trường hợp bất khả kháng mới tạm dùng Bàn Thờ treo tường nhưng cũng phải đảm bảo đủ 03 Bát Hương chứ không được thờ chung Các Quan với Tổ Tiên cùng một bát là trái quy luật tự nhiên.
4/. Yếu tố cần thiết khi tự thỉnh Bát Hương:
Một Bàn Thờ linh ứng thì điều kiện cần là Tâm và điều kiện đủ là Pháp.
+ Tâm: cần phải có sự đồng thuận của cả gia đình (đặc biệt là cả 2 vợ chồng). Trong đó có việc chuẩn bị nơi thờ tự (Bàn Thờ, các đồ thờ, đồ lễ mã...) cần được hướng dẫn cụ thể tùy theo mỗi gia cảnh để tránh thiếu sót.
+ Pháp: trước đây thường do các thầy có căn duyên làm hộ nhưng thời nay phát sinh quá nhiều nhiễu nhương làm Bách Gia mất dần lòng tin vào Tâm Linh Chân Chính, bởi vậy âm luật cũng có sự điều chỉnh phù hợp là để Bách Gia nương theo chữ Pháp để Tự thỉnh Bát Hương tại gia để đơn giản hóa mọi việc hơn. Trong đó chữ Pháp là pháp phép của cõi Thiên khai sáng chứ không phải của thầy nào, cũng không phải là bùa ngải hay trấn yểm gì. Tất cả Hội đồng các tôn quan, tôn thần, chư thần bản thổ khi thấy chữ này thì như thấy lệnh Thiên ban: Hội Đồng Các Quan sẽ có trách nhiệm về đất đấy, ngự tại lô nhang đó để khai sáng cho Bách Gia. Tương tự như vậy Hội đồng Gia Tiên Tiền Tổ và Hội Đồng Bà Cô Ông Mãnh 4 họ (còn ở phần âm từ cảnh giới bình thường trở lên) nhìn thấy chữ Pháp và nghe thấy lời hiệu triệu thỉnh cầu của con cháu sẽ dần dần tìm theo ánh sáng về ngự tại Bát Hương trong vòng 100 ngày. Bát Hương nào tâm người thỉnh (con cháu phát mạnh và linh ứng nhanh thì có thể nhanh nhất 10 ngày đã linh ứng, còn không thì cứ đúng 100 ngày sẽ được tạ lễ). Lưu ý các Cụ ở cảnh giới tù ngục và lao động khổ sai sẽ ko về ngự lô nhang được (chỉ được về ở 8 ngày tiệc trong năm), Bát Hương được thỉnh chữ Pháp thì chắc chắn Các Quan và Gia Tiên sẽ ngự vì đây là lệnh từ trên Thiên. Nhưng sau khi các chư vị đã ngự, Bát Hương có còn linh ứng hay không lại phụ thuộc hoàn toàn vào Tâm của Gia Chủ chăm sóc việc thờ tự đó ra sao.
+ Sau khi thỉnh Lô Nhang và thắp hương thường xuyên tối đa 100 ngày (có nhà nhanh thì 49 ngày) là Bát Hương đã linh ứng để Tạ An Vị thì tốt nhất hạn chế thắp Hương hoặc nên dùng Trầm vì Hương thường tẩm hóa chất sẽ không tốt cho cả phần Âm và Dương.
5/. Cách dâng lễ:
5.1/. Về Luật lý Thờ Tự: là thỉnh mời và giao tiếp với thế giới tâm linh nhằm tỏ lòng hiếu kính và cậy nhờ thần lực của cõi âm, phù trợ cho sự an lạc của cõi dương nên mới có câu “Âm phù Dương trợ” là vậy. Nét đặc trưng của Thờ Tự là hương đèn (hương đăng - hương hỏa) bởi cái lý: cõi Âm là tối (lạnh) nên cần cõi Dương thắp hương đèn là sáng (ấm) để hòa hợp (cân bằng) Âm Dương.
5.2/. Đồ lễ dâng: Lễ vật dâng tiến Bề Trên và Tổ Tiên cốt ở cái Tâm và tùy vào gia cảnh mỗi người, tuy nhiên cho dù ít hay nhiều thì chúng ta phải rất kĩ lưỡng chọn lựa để các đồ dâng sao cho thật thanh tịnh chứ không nên à uôm hoặc phó mặc người khác làm hộ. Mỗi thứ đồ dâng có thể không cần nhiều nhưng phải đủ, chẳng hạn có điều kiện thì ta dâng 3-5-7 quả cau, còn không có thì ta dâng 1 quả cũng không sao cả. Không những vậy các đồ dâng còn cần phải đúng nữa, chẳng hạn hoa Cúc Vàng (tứ quý) chỉ để dâng Các Quan lọ riêng, còn hoa các màu và hoa trắng (hồng, cúc trắng, sen...) để dâng Gia Tiên và Bà Cô Ông Mãnh lọ riêng... Về phần âm ko phải người trần dâng bao nhiêu là nhận được hết bằng đó mà nhận theo nhân duyên, nghiệp định và cõi mình được định nghiệp.
Nếu mà nhận hết thì vào dịp rằm tháng 7 có nhà dâng cả ô tô vàng mã thì các Cụ dưới âm giầu lắm sao? Theo Âm Luật thì không phải vậy, nhà mình dâng bao nhiêu phần âm có sự phân bổ rất rõ ràng, nghiêm khắc và nghiêm túc. Trần có thể xô bồ gian trá chứ phần âm công minh lắm nên chết mới là lúc trả tội trên trần là vậy, ngoài ra tùy theo mỗi duyên nghiệp từng thời điểm khác nhau của các chân linh mà được hưởng thụ bao nhiêu. Chẳng hạn các Cụ ở cảnh giới tù tội thì cháo loãng cũng ko nhận được chứ nói gì tới là tiền vàng mã nữa.
5.3/. Hành Lễ: Từ thời xa xưa thì các hoạt động Thờ Tự đều vận hành dựa theo theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành:
> Chủ lễ: trước đây thường là Nam thuộc tính Dương để đối với Âm, còn Nữ thuộc tính Âm nên chỉ chuẩn bị đồ lễ hoặc chắp vái, cùng lắm là thắp Hương chứ không làm chủ lễ (trừ trường hợp đặc biệt). Tuy nhiên đó cũng là những điều chưa phù hợp tự nhiên nên Âm Luật cũng đã có những điều chỉnh để bình đẳng việc Thờ Tự này và nhất thống cả hai vợ chồng đều phải thực hành việc đó.
> Thắp Hương: Triết lý phương Đông cho rằng số số lẻ là Dương và số chẵn là Âm nên khi dâng lễ thắp hương dâng lễ sẽ dùng số dương để đối với âm, tức là thắp 1-3-5-7-9 nén tuỳ theo tính chất đàn lễ.
> Bái lậy: cũng theo nguyên tắc số lẻ như thắp hương. Cụ thể với Gia Tiên là 3 vái, còn với Tổ Tiên - Các Quan và Bề Trên là 5 vái, sám hối thường 9 vái...
> Khấn lễ: Theo Bài Khai Sáng và Chú Đại Bi
6/. Phương pháp dưỡng Thờ Tự Tổ Tiên:
Khi đã lập được nơi thờ tự linh ứng thì việc duy trì sinh khí ấy ra sao mới là điều quan trọng hơn. Thứ nhất là các dịp Rằm - Mùng 1 con cháu ngoài việc dâng thanh bông hoa quả thì nên có cả lễ mặn dâng Hội Đồng Các Quan mới hợp cách. Thứ hai là 3 dịp lễ lớn trong năm: rằm tháng giêng - rằm tháng 7 - rằm tháng chạp cần phải có thêm mâm cơm canh dâng Tổ Tiên. Ngoài ra còn có các dịp Giỗ Tết cũng nên dâng thêm mâm cơm canh, lưu ý phải có bát cháo loãng, nếu chuẩn bị được cả lễ chúng sinh kèm phóng sinh thì công đức sẽ tròn đầy hơn. Hơn nữa mỗi gia đình cần làm Giỗ đúng ngày để Gia Tiên ở cảnh giới thấp được về vào ngày đó và nên dâng cả Cháo chay là đồ thực chỉ các Cụ yếu mới có thể thụ được (ngoài ra còn 7 ngày nữa trong năm cũng nên làm đúng ngày như vậy để tránh các Cụ thành Cô Hồn). Cuối cùng, điều không thể thiếu là hàng ngày cả nhà nên đọc Chú Đại Bi để xin khai sáng và đẩy âm uế Thân Tâm cũng như Nhà Ở của mình thì càng toàn vẹn hơn.
Khi mỗi gia đình đều nhất Tâm và biết cách dâng lễ đầy đủ như vậy, kết hợp với việc Tạ Mộ đầu và cuối năm thì Đạo Hiếu luôn được duy trì, nguyên khí nơi đó sẽ bền vững hơn. Lưu ý thêm rằng việc Thờ Tự cần phải luôn trang nghiêm - thanh tịnh - an vị nên vào cuối mỗi tháng con cháu phải lau dọn sạch sẽ nhưng không xê dịch Bát Hương để tránh bị động chứ không nhất thiết phải tới 23 tháng Chạp như thói quen lâu nay. Những vấn đề khác xoay quanh việc Thờ Tự đã được hướng dẫn cụ thể với từng gia đình khi đủ nhân duyên lập nơi Thờ Tự thuận tự nhiên nên người chắp bút không tiện nhắc lại ở đây vì rất dài dòng.
7/. Tham khảo sơ bộ cách thiết kế bài trí nơi Thờ Tự Tổ Tiên thuận tự nhiên:
7.1/. Thiết kế Bàn Thờ Gia Tiên:
+ Bàn Thờ: Nên làm bằng gỗ (gỗ quý hay gỗ thường tùy theo gia cảnh), trạm hoa văn thông thường tránh tứ linh. Kích thước trong đại vận này nên lấy đuôi lẻ 8 hay 9 là tốt nhất (không lấy theo thước Lỗ Ban vì đã không còn phù hợp). Bổ sung thêm bàn phụ để bày mâm cơm Gia Tiên bên dưới chứ không nên đặt ban trên.
+ Bát Hương: Nên dùng đồ gốm sứ nhưng lưu ý Mặt Nguyệt Âm Dương phía trước phải là chữ S ngược mới đúng. Màu men rạn sẽ hợp với đồ gỗ hơn, tỉ lệ Bát Hương phải cân đối theo Ban Thờ chứ không được quá nhỏ. Theo Luật Âm nên bài trí 03 Bát Hương là: Bát ở giữa thờ Hội Đồng Các Quan, nhìn từ trong ra thì bên Tả (trái) là Hội Đồng Gia Tiên và bên Hữu (phải) là Hội Đồng Bà Cô Ông Mãnh.
Ví dụ: Ban Thờ chiều ngang 1.98m - sâu 1.08m - cao 1.18/1.28m thì tỉ lệ Bát Hương là 22-25-22cm (Bát Hương thường bị phụ thuộc theo kích thước nhà sản xuất nhưng tỉ lệ nên hơn kém nhau 2-3cm là phù hợp).
+ Các đồ phụ kiện trên Ban Thờ: 03 mâm bồng tương ứng và to hơn 03 bát hương, nậm chóe và khay 03 (hoặc 05) chén chủ yếu để bày, 01 lọ hoa Cúc Vàng và 01 lọ hoa các màu kèm màu trắng, 01 ống cắm hương, bộ ấm pha trà, đĩa đựng trà thuốc trầu cau... Khi dâng lễ cũng cần lưu ý cân đối và hướng các đồ lễ vào trong hoặc giữa (ví dụ: gà quay ngang hướng vào giữa, trầu cau cùng chiều là và hướng cuống vào trong hoặc giữa...).
+ Ghế tựa lưng: Trường hợp Ban Thờ rộng (hoặc Từ Đường) có thể bài trí 03 Ghế tựa lưng hoa văn bình thường chứ không được phép dùng Ngai.
+ Hoành Phi - Câu Đối: Nên làm bằng gỗ và viết chữ Tiếng Việt rõ nghĩa màu đỏ, tùy theo gia cảnh để ứng riêng câu chữ theo Âm Phúc Tiên Tổ hay ứng theo nhân duyên câu chữ của Luật Âm mới.
+ Ảnh Đức Quán Thế Âm Bồ Tát kèm đôi sen gỗ: Ban Thờ Gia Tiên theo Luật Âm được phép treo ở chính giữa phía trên Bát Hương HĐ Các Quan vì Ngài đã phát nguyện phổ độ chúng sinh, còn các ảnh Phật khác nếu treo hoặc thờ tại đây là bị lỗi. Thời mạt pháp treo ảnh Đức Quán Thế Âm để chiêm bái và đọc Chú Đại Bi của Ngài hàng ngày sẽ giúp Gia Tiên cũng như con cháu được khai sáng nhiều điều mà vượt qua giai đoạn đại thanh lọc này (nên chọn ảnh được ứng phần Âm sẽ linh khí hơn).
+ Đôi đèn điện: Nên thắp sáng suốt ngày đêm để hội tụ linh khí tối đa (thay cho đèn dầu và nến)
+ Đôi lộc bình: Có vai trò rất quan trọng về phần Âm để Gia Tiên giữ tài lộc cho con cháu và cũng tựa như hai bên Long Hổ cân đối hai bên Ban Thờ khi bài trí phần Dương. Phía trên nên dùng mâm nhôm đựng nhiều chai nước vì lộc bình gốm sứ là hành Thổ sinh Kim (mâm nhôm), Kim lại sinh Thủy (chai nước) - biểu tượng của Tài Lộc nên luôn phải duy trì thường xuyên. Tốt nhất là dùng đôi lộc bình to bày hai bên Ban Thờ, còn bất đắc dĩ do không gian hẹp mới dùng đôi nhỏ để luôn trên Ban (lưu ý ko dùng đôi lộc bình gỗ vì thường đặc ruột).
+ Sập gỗ: Nên đóng sập cao tầm 10cm để khi ngồi lễ sẽ đỡ bị phạm hơn, còn sập cao thì nên để bày lễ chứ hạn chế ngồi trên đó.
Dưới đây là một số mẫu Bàn Thờ Gia Tiên được bài trí Thuận Tự Nhiên
7.2/. Thiết kế Từ Đường dòng họ:
Từ Đường từ bao đời nay là nơi hội tụ linh khí của cả một dòng tộc cho dù là lớn hay nhỏ. Nếu con cháu duy trì được linh khí (chỉ khi làm đúng cả phần Âm chứ có Tâm không là chưa đủ) thì sẽ Bồi Phúc được cho các đời sau. Ngược lại nếu việc xây dựng và duy trì chưa đúng cách thì có thể sẽ mắc lỗi phần Âm nên mặc dù rất có Tâm mà công đức không đạt được kết quả như mong muốn.
> Về vị trí và hướng:
+ Từ Đường nên xây dựng trên nền đất Tổ Tiên để lại vì đã được dưỡng qua nhiều đời thì linh khí dễ hội tụ hơn
+ Hướng Từ Đường nên theo Long Mạch ứng với Âm Phúc mỗi dòng họ sẽ khác nhau vì là thờ đường Âm chứ không phải chỉ đường Trần
> Về không gian ngoại thất:
+ Từ Đường nên tách biệt lối vào với Nhà Ở bằng vách ngăn cứng (tường) hoặc mềm (cây xanh)
+ Nên xây bồn hoa gian chính giữa làm lớp Trấn Phong tự nhiên và chỉ tạo lối lên bên Trái - lối xuống bên phải theo chiều từ trong nhìn ra (hạn chế dùng Trấn Phong xây cứng nhìn dễ gây ức chế bởi không gian cận)
+ Từ Đường chỉ nên đắp vẽ hoa văn đơn giản (có thể dùng sen hoặc tứ quý)...
> Về không gian nội thất:
+ Chỉ nên bài trí không gian thờ tự ở gian giữa, phía trước là sập, 2 bên là bàn ghế kèm tranh ảnh lưu niệm. Cấu trúc thờ tự chia 3 cấp từ trên xuống, thêm 01 bàn đặt trên sập tạo thành 5 cấp
+ Từ Đường có thể dùng Ghế hoa văn đơn giản thay thế cho Ngai và Khám (áp dụng cho Các Quan, Gia Tiên và Bà Cô Ông Mãnh) để cấp trên cùng
+ Cấu trúc Lô Nhang cấp thứ 2: Hội Đồng Các Quan chính giữa, tính theo chiều nhìn từ trong ra thì bên Tả (Trái) là Hội Đồng Gia Tiên và bên Hữu (Phải) là Hội Đồng Bà Cô Ông Mãnh
+ Nếu có ảnh Cụ Tổ và các Cụ lâu đời khác thì nên bài trí 2 gian bên để chiêm bái lưu niệm chứ không để trên ban thờ
+ Dòng tộc nên thống nhất việc thu tiền mặt công đức về một mối và phân công người sắm đồ thờ cho đồng bộ về chất liệu và tỉ lệ...
+ Không bước ra từ gia giữa hoặc đặt chân lên ngưỡng cửa
+ Nên có quy định vào dịp lễ Giỗ Tổ chỉ Cụ nào Thân Tâm thanh tịnh đứng ra thắp hương thay trên 03 Lô Nhang chính, còn cần thiết làm thêm 01 Lô Nhang tạm ko có Cốt bên dưới cho con cháu thắp riêng để tránh mạo phạm hoặc làm động Lô Nhang bên trên.
* Ghi chú: cấp thứ 3 chỉ để bày lễ chay thanh bông hoa quả và lễ mặn dâng Các Quan, còn Bàn Con trên sập là cấp thứ 4 thì mới bày 1-2 mâm cơm canh Gia Tiên...
Trên đây chỉ là một vài lưu ý nhỏ trong số rất nhiều những nguyên tắc khi thiết kế bài trí Từ Đường thuận theo tự nhiên mà người chắp bút đề cập, mong rằng con cháu các dòng tộc có thể lưu tâm hơn để nơi Từ Đường Tổ Tiên có thể hội tụ được linh khí tối đa nhất.
8/. TỔNG KẾT: Thờ Tự Thuận Tự Nhiên là sự kế thừa từ những tinh hoa của cổ Nhân kết hợp với những tinh hoa của Thiên Địa để Thiên Địa Nhân được hợp nhất mà vận dụng hài hòa Âm Dương trong bối cảnh thời nay. Nếu Bách Gia nào đủ Đức Tin và nhân duyên thì Tổ Tiên sẽ tự khắc dẫn dắt để cháu con gặp người hướng dẫn biết thực hành đúng cách, người chắp bút cũng xin đóng vai trò chắp nối Âm Dương để trợ duyên hết lòng với công việc này một cách miễn phí bởi mỗi mảnh đất được dưỡng khí từ từng gia đình khi lập nơi thờ tự thì đồng nghĩa với bản thân cũng đã hoàn thành trách nhiệm trước Đất Trời rồi./.
!!! Lưu ý: Những Tri Thức thuộc phần Thuận Tự Nhiên trên do Thiên Địa khai sáng, người chắp bút chỉ đóng vai trò cầu nối với các yếu tố Nhân để sao cho Thiên - Địa - Nhân hợp nhất chứ không phải tự nghĩ ra nên chỉ khi nào Quý Gia Chủ có đủ Đức Tin lúc còn ở cõi Dương thế hoặc chậm nhất là lúc về với Tiên Tổ ở cõi Âm sẽ tự cảm nhận được rõ nhất điều này. Vì vậy nếu Quý Gia Chủ thấy những điều chia sẻ này chưa phù hợp xin vui lòng bỏ qua hoặc chỉ tham khảo để suy ngẫm thêm thay vì vội vàng phản bác để tránh tạo Khẩu Nghiệp ạ!
Kính chúc các Quý Gia Chủ luôn được an yên mỗi ngày trong cuộc sống !
Chắp bút: Kiến trúc sư Kiến Phong
Nhắn tin trước qua Zalo: 0896466899















































































































































































